Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

Bộ luật dân sự 2015

2. Luật sư tư vấn: 

Ngày 22/02/2013 tôi chuyển tiền qua ngân hàng cho một người bạn vay số tiền là 60 (sáu mươi) triệu. Thời gian bạn tôi hỏi vay là 1 tháng. Nhưng 30 tháng sau bạn tôi không trả tiền cho tôi mà giấu bán nhà, bỏ trốn cắt liên lạc. Cho hỏi tôi phải làm gì và trình tự ra sao để lấy lại được tiền mình đã cho vay?

Theo những thông tin quý khách cung cấp thì giữa quý khách và bạn có một hợp đồng vay tiền. Hợp đồng này đã hết thời hạn hai bên thỏa thuận và quá thời hạn này là 30 tháng. Sau đó, bạn của quý khách đã bán nhà, không trả tiền và trốn đi nhằm trốn tránh việc trả tiền cho quý khách. Như vậy, bạn của quý khách đã có những hành vi phù hợp với cấu thành tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này"

Bạn của quý khách đã có những hành vi: vay tiền của quý khách; không trả tiền lại cho quý khách khi hết hạn vay tiền; trốn tránh việc trả tiền và bỏ trốn đi nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền đã vay, không trả lại. Những hành vi cùng giá trị số tiền là 60 triệu đã đủ dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009.

Hành vi của bạn quý khách đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, quý khách có quyền tự mình tố cáo hoặc làm đơn tố cáo hành vi phạm tội của bạn quý khách để hành vi này bị khởi tố, điều tra xét xử theo đúng quy định pháp luật và từ đó quý khách cũng có thể lấy lại số tiền đã cho vay. 

Sự việc mang tính hình sự nhưng cũng mang tính chất dân sự vì nguồn gốc phát sinh sự việc là từ hợp đồng vay tiền bằng lời nói giữa hai vị. Nên nếu quý khách chỉ muốn lấy lại số tiền đã cho vay và nhận số tiền phạt do vi phạm hợp đồng; quý khách không muốn bạn quý khách bị xử lý hình sự thì quý khách có thể làm đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xin chào luật sư, em có người bạn vay em 13 triệu với lãi suất 6% một tháng. Nhưng bạn ấy trả lãi cho em được 5 tháng rồi không trả nữa đến 6 tháng sau em có nói với bạn là em không lấy lãi 6 tháng đó, và nói bạn gặp khó khăn thì trả vốn lại cho em từng tháng thôi, mỗi tháng trả em 500 ngàn cho đến hết 13 triệu, bạn ấy trả em tháng đầu 500 ngàn tháng thứ 2 bạn ấy trả 300 ngàn em cũng chấp nhận, nhưng đến nay 3 tháng không thấy trả nữa, điện thoại thì không bắt máy. Lúc vay tiền em không có làm giấy tờ, nhưng em có ghi âm lại tất cả các cuộc nói chuyện và những lần gọi điện cho bạn ấy em điều có ghi âm hết. Vậy xin hỏi luật sư em có thể đưa bạn ấy ra pháp luật để giải quyết được không, em xin cám ơn!
Em với bạn em đi cắm xe, xe chính chủ và em đứng tên nên khi đi cầm đồ em đứng ra kí, xong cho bạn mượn tiền. Việc mượn giữa em và bạn chỉ là mượn qua miệng không có bất cứ giấy tờ gì. Giờ bạn không trả thì em đi kiện có được không? 

"Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định."

"Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó."

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy, hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản. Hình thức của hợp đồng vay tiền không buộc phải lập thành văn bản và công chứng hoặc chứng thực. Các bên chủ thể trong hợp đồng vay tiền có thể giao dịch bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể đều đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, dù các bên chủ thể xác lập hơp đồng vay tiền bằng hình thức nào cũng đều phải chứng minh sự tồn tại của hợp đồng bằng những chứng cứ cụ thể, xác thực được. 

Khi vay tiền, quý khách không làm giấy tờ nhưng có ghi âm lại giao dịch giữa quý khách và người vay tiền và những lần hai bên thỏa thuận trả tiền, gia hạn trả tiền đều được ghi âm thì file ghi âm đúng sự thật, không bị làm giả, được các bên xác nhận là đúng hoặc được chứng minh là đúng thì sẽ được coi là chứng cứ chứng minh cho sự việc vay tiền. Và được chấp nhận là chứng cứ chứng minh khi quý khách có yêu cầu khời kiện dân sự tại Tòa án.

Hợp đồng vay tiền có thể được xác lập, thực hiện bằng lời nói (bằng miêng) và vẫn có giá trị pháp lý như hợp đồng vay tiền được thể hiện bằng văn bản nếu các bên khi giao kết hợp đồng đáp ứng đủ các điều kiện còn lại theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015. Quý khách có thể khởi kiện dân sự yêu cầu bên vay tiền trả tiền cho mình tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú. 

Chào luật sư! Tôi có câu hỏi xin nhờ được giải đáp như sau: Tháng 07/2014 chồng tôi được một người tên A nhờ đứng tên để vay ngân hàng số tiền 500.000.000 VNĐ. Người đó làm thủ tục sang tên một miếng đất của người B cho chồng tôi đứng tên để hợp thức hóa thủ tục vay có tài sản thế chấp. Vì tin tưởng nên chỉ thỏa thuận đồng ý giúp mà không có bất kể giao kết bằng văn bản nào chứng minh chồng tôi chỉ là người đứng tên vay hộ chứ không phải là người vay và sử dụng số tiền đó. Bên phía ngân hàng cho người thẩm định và đánh giá miếng đất đó trị giá 750.00.000đ rồi tiến hành giải ngân. Trong vòng 01 năm người A đó trả gốc và lãi đầy đủ. Cho đến tháng 9/2015 thì bên phía ngân hàng cho nhân viên xuống làm việc với vợ chồng tôi và thông báo là đã quá hạn mấy tháng không trả gốc và lãi. Vợ chồng tôi bất ngờ với sự việc trên đã gọi điện với người A thì nhận được câu trả lời, lúc thì nói họ không liên quan, lúc thì bảo vợ chồng tôi yên tâm họ cũng chỉ vay hộ để họ giục người ta trả. Nhưng cho đến nay tức tháng 10/2016 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2015 đến nay nhiều lần bên phía ngân hàng đến vận động chồng tôi kí giao tài sản thế chấp để xử lý nợ, nhưng tôi đang hoang mang không biết nên làm thế nào. Xin luật sư cho hỏi nếu chồng tôi kí giao tài sản là xong hay có trường hợp sau này ngân hàng phát mại tài sản đó mà không đủ trả nợ thì vợ chồng tôi có phải trả thêm khoản tiền thiếu đó không. Và để không bị mất tiền oan vì số tiền đó thực chất vợ chồng tôi không được sử dụng thì vợ chồng tôi nên kiện người A không. Các bước thực hiện như nào vì không có chứng cứ chứng minh người đó nhờ vợ chồng tôi đứng tên vay, chỉ có 02 người làm chứng cùng đi đến ngân hàng làm thủ tục giải ngân

Hợp đồng vay tiền giữa chồng quý khách và ngân hàng mặc dù bản chất là chồng quý khách vay tiền hộ bạn nhưng hợp đồng vay tiền giữa ngân hàng và chồng quý khách hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không bị cưỡng chế, không có dấu hiệu lừa dối và hợp đồng này không vi phạm về hình thức cũng như chủ thể thực hiện nên hợp đồng vay giữa chồng quý khách và ngân hàng là hợp đồng đã đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực tại Điều 117 và có giá trị chứng minh khi xảy ra tranh chấp. Quyền sử dụng đất sử dụng làm tài sản thế chấp khi giao kết hợp đồng vay nên sẽ bị phát mãi khi bên vay tiền là chồng quý khách không thể thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo đúng hợp đồng. Nếu giá trị quyền sử dụng đất không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì chồng quý khách vẫn phải tiếp tục trả số tiền còn lại cho ngân hàng.

Chồng quý khách có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu người A trả số tiền đã vay vì hợp đồng vay giữa chồng quý khách và người A là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật. Mặc dù hợp đồng vay tiền giữa chồng quý khách và người A không được lập thành văn bản nhưng nếu chồng quý khách có thể chứng minh bằng hình thức khác như có ghi âm, có người làm chứng thì vẫn có giá trị chứng minh trước cơ quan có thẩm quyền.

A muốn vay 100 triệu để xây nhà, B tự nguyện đứng ra thế chấp chiếc ô tô 1 tỉ cho ngân hàng C làm tài sản bảo đảm, trước đó B đã dùng ô tô này thế chấp cho ngân hàng D để vay tiền đầu tư bất động sản là (300 triệu) và đã thông báo cho ngân hàng C biết điều này. Đến hạn trả nợ A không thể trả nợ, ngân hàng C quyết định làm thủ tục bán đấu giá chiếc ô tô của B (lúc này B đã trả xong nợ cho ngân hàng D và được xóa thế chấp hoàn toàn tại ngân hàng này). Vậy số tiền mà B phải thanh toán cho ngân hàng C là bao nhiêu? Giả sử B chỉ đứng ra bảo lãnh 50% nghĩa vụ trả nợ cho A trong các trường hợp sau: Nếu: a, A chưa trả được đồng nào b, A trả được 25 triệu c, A trả được 50 triệu d, A trả được 75 triệu

Hợp đồng bảo lãnh được quy định tại Điều 335 và phạm vi bảo lãnh được quy định tại Điều 336 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 335. Bảo lãnh

1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh."

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

"Điều 336. Phạm vi bảo lãnh

1. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

2. Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

4. Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại."

Như vậy, khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh (bên A) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên ngân hàng C thì bên bảo lãnh (bên B) có nghĩa vụ thực hiện thay cho bên A. Theo những thông tin quý khách cung cấp thì phạm vi bảo lãnh của bên B trong hợp đồng là 50%. Bên B sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả 50% phần nghĩa vụ bên A chưa trả hoặc trả chưa hết. Cụ thể theo giả thiết của quý khách như sau:

Trường hợp 1: Nếu A chưa trả được số tiền vay ngân hàng 100 triệu thì B có nghĩa vụ trả số tiền là: (50%*100 triệu)/ 100% = 50 triệu (trường hợp đến hạn trả bên A chưa trả tiền và chưa quá thời hạn hết hợp đồng giữa A và ngân hàng). Nếu quá thời hạn vay thì số tiền lãi của những ngày quá hạn, B vẫn phải trả với mức là 50% số tiền lãi chậm trả, số tiền lãi quá hạn.

Trường hợp 2: Nếu A trả được 25 triệu thì B phải trả 50% tổng số tiền còn lại mà A chưa trả và số tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, lãi trên số tiền chậm trả (nếu có). Nếu vừa đến hạn hợp đồng mà B trả thì B sẽ phải trả số tiền là: 50%* (100 triệu - 25 triệu)/ 100% = 37,5 triệu

Trường hợp 3: A trả được 50 triệu. Đến thời hạn, B phải trả số tiền là: 50%* (100 triệu - 50 triệu)/100% = 25 triệu

Trường hợp 4: A trả được 75 triệu. Đến thời hạn, B phải trả số tiền là: 50%* (100 triệu - 75 triệu)/100% = 12,5 triệu

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?

Em cần vay vốn mà không có đi làm trong công ty nên không có chứng minh bảng lương được, Mà em có tài sản thế chấp là chiếc xe sh 125i. Vậy làm sao em có thể vay được?

Quý khách muốn giao kết hợp đồng vay tiền với ngân hàng thì phải đáp ứng điều kiện về chủ thể (đủ 18 tuổi trở lên) và đáp ứng đủ 3 điều kiện còn lại theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015. Phía ngân hàng yêu cầu quý khách cung cấp hợp đồng lao động và bảng lương để xác minh điều kiện có thể trả nợ của quý khách với khoản vay. Nhưng vì quý khách không đi làm trong công ty mà chỉ có tài sản là chiếc xe SH 125i nên quý khách có thể thương lượng với ngân hàng vay một khoản tiền tương đương với giá trị chiếc xe SH có thể đảm bảo.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay xử lý thế nào ?