Đại diện Công ty luật Minh Khuê - Luật sư Lê Minh Trường đã vinh dự tham gia chương trình với vai trò khách mời, là một chuyên gia/Luật sư pháp lý hàng đầu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nhằm chia sẻ về "Nhượng quyền thương mại tại Việt Nam – Lưu ý cho doanh nghiệp Việt" và "Đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài - những lưu ý đối với doanh nghiệp". Ban biên tập xin chia sẻ những nội dung mà Luật sư đã trao đổi để quý khách hàng tham khảo và hiểu rõ thêm những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.

Câu 1: Việt Nam có không ít các doanh nghiệp bị tổn thất không nhỏ vì nhãn hiệu hàng hóa của mình bị nước ngoài đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Vinataba là một điển hình​, hay Café Trung Nguyên tại Nhật, bia Sài gòn tại Mỹ và Canada, bánh phồng tôm Sagiang tại Pháp và Châu Âu hay kẹo dừa Bến tre tại Trung Quốc. Vậy, nguyên do dẫn đến việc các doanh nghiệp Việt phải đối diện với tình trạng này là gì? Phải chăng mấu chốt ở đây là vấn đề nhận thức của doanh nghiệp?

Luật sư:

Thứ nhất, Thương nhân Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhãn hiệu hàng hoá, từ đó xem nhẹ việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với thương hiệu của mình, không chỉ tại thị trường nước ngoài, mà ngay cả ở thị trường trong nước. Mỗi năm, Cục Sở hữu trí tuệ đã nhận được khoảng hơn 20.000 đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá từ các doanh nghiệp trong nước và các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong số khoảng 15.000 bằng sở hữu công nghiệp được đăng ký và bảo hộ ở Việt Nam(1) thì chủ yếu là của doanh nghiệp nước ngoài chiếm đa số và còn lại thiểu số là của doanh nghiệp Việt Nam.

Mặc dù trong những năm qua, lượng đơn đăng ký từ doanh nghiệp trong nước đã tăng lên đáng kể nhưng cũng còn không ít doanh nghiệp Việt Nam còn thờ ơ với việc bảo hộ nhãn của mình. Các doanh nghiệp chỉ đến khi nhận thấy thương hiệu sản phẩm của mình có vai trò quan trọng trong việc phát triển, thì mới làm thủ tục đăng ký, lúc đó hoặc đã muộn hoặc phải đi theo kiện vừa tốn kém chi phí vừa tốn thời gian.

Thứ hai, Các doanh nghiệp Việt Nam chưa xác định được chiến lược kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế và tập trung phát triển kinh doanh dài hạn tại các thị trường trọng điểm. Họ thường lo ngại phải bỏ ra một khoản tiền đăng ký sở hữu nhưng không biết có chỗ đứng tại thị trường nước ngoài hay không? Do đó, các doanh nghiệp thường chờ khi sản phẩm có chỗ đứng chân chắc chắn rồi mới lo đến việc đăng ký nhãn hiệu. Đây cũng là tâm lý làm ăn nhỏ và mang đậm nét của một nước nông nghiệp là chủ yếu.

Thứ ba, Hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về luật pháp quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn hạn chế. Doanh nghiệp chỉ lo đến việc làm ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh và tìm được thị trường xuất khẩu, vậy là đủ. Hơn nữa DN nghĩ rằng, chỉ đăng ký thương hiệu ở Việt Nam là hoàn tất thủ tục. Họ không biết rằng, phải tiến hành đăng ký nhãn hiệu hàng hoá trước 6 tháng đến một năm, khi muốn đưa sản phẩm của mình vào bất cứ thị trường nào ở nước ngoài. Do việc đăng ký nhãn hiệu được tiến hành sau khi xuất khẩu sản phẩm ở thị trường nước ngoài đã tạo điều kiện cho các đối tác của DN nước ngoài đăng ký trước.

Thứ tư, Chế tài xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT ở VN còn chưa cao, chưa nghiêm khắc. Từ đó, gây tâm lý thờ ơ đối với DN Việt Nam; bởi vậy mà tâm lý này đã ít nhiều gây ảnh hưởng đến tâm lý của DN Việt Nam khi kinh doanh tại thị trường nước ngoài. Họ không biết rằng chi phí mua lại 1 nhãn hiệu cao hơn rất nhiều so với chi phí đăng ký bảo hộ NHHH đó.

Câu 2: Hậu quả khi các doanh nghiệp không đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài?

Luật sư:

Thực tế, đã có hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam bị chiếm đoạt nhãn hiệu và tranh chấp ở thị trường nước ngoài do nhãn hiệu không được đăng ký, bảo hộ tại thị trường đó. Và hậu quả mà doanh nghiệp Việt Nam phải gánh chịu là rất nặng nề. Khi đó:

1.  Nếu hàng hoá chưa xuất vào thị trường đã bị đăng ký nhãn hiệu, thì việc xuất hàng sẽ không thực hiện được, doanh nghiệp sẽ phải thay đổi nhãn hiệu và chi phí tốn kém cho tiếp thị mới.

2.  Đặc biệt, khi hàng hoá của doanh nghiệp đang có mặt tại thị trường, người chiếm đoạt nhãn hiệu có thể sẽ yêu cầu pháp luật can thiệp và hàng hoá có thể bị bắt giữ, xử phạt và doanh nghiệp sẽ mất luôn thị phần.

3.  Nghiêm trọng hơn, nếu nhãn hiệu bị chiếm đoạt ở những nước tiếp giáp Việt Nam, những người chiếm đoạt nhãn hiệu sẽ lợi dụng để sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam. Đây là những bài học “nhãn tiền” và là lời cảnh báo đối với các doanh nghiệp Việt Nam mà đặc biệt là những doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất khẩu hàng hoá cần nêu cao ý thức bảo vệ và gìn giữ nhãn hiệu ở thị trường trong nước cũng như thế giới.

Thực tế hiện nay, trong số gần 6.000 doanh nghiệp nhà nước, trên 2.000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, và ngoài 50.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cùng với hàng trăm nghìn nhãn hiệu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam trên cả nước nhưng chỉ có với con số hơn 400 nhãn hiệu Việt Nam được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài, thể hiện tình trạng yếu kém và tầm nhìn hạn hẹp của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá ngày càng sâu và rộng hiện nay đối với vấn đề nhãn hiệu.

Đến nay đã có hàng chục doanh nghiệp của Việt Nam bị mất nhãn hiệu tại các thị trường lớn. Các doanh nghiệp này không hề biết nhãn hiệu của mình đã được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài cho đến khi chính họ bị phía nước ngoài đệ đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại do "sử dụng nhãn hiệu trái phép", hoặc không được xuất khẩu vào thị trường đó vì nhãn hiệu đã bị đăng ký.

Câu 3: Những lưu ý cho các doanh nghiệp khi đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài?

Luật sư:

1.  Các doanh nghiệp, chủ sở hữu nhãn hiệu, bên cạnh việc đăng ký bảo hộ và trông chờ sự bảo hộ của luật pháp, để hạn chế ở mức thấp nhất tài sản trí tuệ bị xâm phạm, nên có một hệ thống nhân sự và kỹ thuật chuyên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Những doanh nghiệp có uy tín trên thế giới đều rất coi trọng vấn đề thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, hàng hóa để bảo vệ quyền lợi của chính mình và quyền lợi của cộng đồng. Ngay tại Việt Nam, việc Công ty Unilever đã thành lập “đội ACF” với chức năng là chuyên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ các nhãn hàng của Công ty trên cơ sở chủ động hợp tác với các cơ quan chức năng, là một kinh nghiệm tốt.

2.  Ngoài việc cố gắng tạo ra được uy tín của mình đối với khách hàng, còn phải biết bảo vệ uy tín đó nữa. Con đường duy nhất, là đăng ký bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ càng sớm càng tốt. Chiến lược xây dựng và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đòi hỏi sự đầu tư dài hơi, thỏa đáng, và tất nhiên, có thể hao tốn nhiều tiền của. Doanh nghiệp nào cũng vậy, đều có tham vọng phát triển quy mô sản xuất kinh doanh. Do đó, phải xác định rằng, song song với việc tự khẳng định vị trí của mình trên thương trường, cần chú trọng đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trước khi quá muộn.

Câu 4: Có thể nói, sự xuất hiện các hệ thống nhượng quyền của Việt Nam như cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Bakery Kinh Đô… đã đánh dấu sự thành công bước đầu của doanh nghiệp Việt trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên việc tạo lập một thương hiệu là rất khó, việc duy trì và gia tăng giá trị của thương hiệu còn khó hơn nhiều, nhất là với phương thức nhượng quyền thương mại. Vậy, lưu ý cho các doanh nghiệp ở đây là gì, thưa Luật sư?

Luật sư:

Một số lưu ý cho cho các doanh nghiệp như sau:

1. Các doanh nghiệp cần phải tự bảo vệ mình bằng cách đăng ký xác lập Quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam, vì điều này sẽ tạo cho chủ sở hữu cơ sở pháp lý khi bị chiếm dụng nhãn hiệu bởi các doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp Việt Nam cần xác định trước thị trường xuất khẩu tiềm năng, từ đó có chiến lược phát triển, đăng ký sở hữu công nghiệp. Để có thể đăng ký ở nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thông qua đại diện Cục Sở hữu công nghiệp (hiện nước ta có hơn 20 đại diện) hoặc qua Internet (nếu đăng ký ở Mỹ). Còn đối với hơn 50 thành viên của Thoả ước Madrid (bao Kinh doanh quốc tế 9 gồm phần lớn các nước châu Âu, SNG, Trung Quốc…) các doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi, chỉ cần nộp đơn theo mẫu chung với khoản lệ phí hợp lý là 900 Fr Thuỵ Sỹ (khoảng 600 USD) nước đầu tiên, cộng thêm 90 Fr cho mỗi nước tiếp theo.

2. Khi bị mất quyền sử dụng thương hiệu, doanh nghiệp cần đấu tranh để giành lại quyền của mình. Hiệp định Thương mại Việt Mỹ (BTA) và các Công ước quốc tế như hệ thống Madrid và đặc biệt là nghị định thư Madrid có hiệu lực tại Việt Nam từ 11/07/2006 sẽ là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp Việt Nam bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

3. Các doanh nghiệp Việt Nam khi kinh doanh tại thị trường Mỹ cần biết rằng hệ thống luật pháp của Mỹ rất phức tạp, mà người Mỹ khi kinh doanh rất tôn trọng và gắn rất sát với luật lệ. Doanh nghiệp Việt Nam thiếu kinh nghiệm và hiểu biết nên rất dễ bị chèn ép. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam nên có luật sư tư vấn để tránh những rủi ro và bất đồng. Tuy nhiên, chi phí trả cho luật sư là rất cao, từ 250 đến 500 USD/giờ. Do đó, muốn sử dụng luật sư có hiệu quả, doanh nghiệp ít nhiều phải am hiểu luật lệ Mỹ, để khi mời luật sư thì đảm bảo thời gian làm việc ngắn nhưng có hiệu quả cao.

4. Các doanh nghiệp nên tổ chức thành các hiệp hội để có thể nâng cao sức mạnh và ưu thế của mình như ngành Thuỷ sản có Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP)… Khi xẩy ra tranh chấp thương mại cần huy động sự tham gia của các ban ngành liên quan như Bộ Thương mại, Cục sở hữu công nghiệp, Bộ Khoa học công nghệ… để giúp doanh nghiệp bảo vệ lợi ích của mình được tốt nhất.

5. Về phía các cơ quan nhà nước có chức năng liên quan như Cục sở hữu công nghiệp, một mặt nên tạo điện kiện thuận lợi hơn để doanh nghiệp có thể tiếp cận và tìm hiểu dễ Kinh doanh quốc tế 10 dàng hơn những điều lệ quốc tế. Mặt khác, tiến hành tham gia các hiệp ước và thỏa ước quốc tế khác ví dụ như thỏa ước La Hay về đăng ký quốc tế về kiểu dáng công nghiệp. Điều này tạo điều kiện cho qui trình đăng ký nhãn hiệu và quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp Việt Nam được dễ dàng hơn trong quá trình hội nhập quốc tế.

Câu 5: Trong quan hệ nhượng quyền với các thương hiệu lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt cần chú ý những vấn đề gì, thưa Luật sư? 

Luật sư:

Các doanh nghiệp Việt Nam, khi tiến hành nhượng quyền thương mại, dù là bên nhận chuyển nhượng hay bên chuyển nhượng cũng cần phải hết sức quan tâm tìm hiểu những mặt lợi và hại của mô hình kinh doanh này trước khi triển khai áp dụng trên thực tế. Tôi có một số lưu ý đối với hoạt động nhượng quyền có yếu tố nước ngoài như sau:

1.  Cần xác định chủ thể trong quan hệ nhượng quyền thương  mại có yếu tố nước ngoài có thỏa mãn những điều kiện gì. Điều này không hề đơn giản bởi nó phụ thuộc vào từng hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, thì chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng cần thỏa mãn các điều kiện giống như chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung. Cụ thể được quy định tại Nghị định 35/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại và Điều 761, Điều 762 BLDS 2005.

2. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại. Trong đó, các doanh nghiệp cần chú ý là Nghị định có bổ sung quy định 02 trường hợp không phải đăng ký nhượng quyền thương mạichỉ phải thực hiện chế độ báo cáo cho Sở Công Thương là: Nhượng quyền trong nước; nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài.  Như vậy, đối với hoạt động nhượng quyền thương mại từ Việt Nam sang nước ngoài thì chỉ cần báo cáo với Sở Công Thương mà không cần phải đăng ký nhượng quyền thương mại.

3.  Cần xem xét quy định về hình thức, ngôn ngữ đối với hoạt động NQTM có yếu tố nước ngoài. Nước ta quy định đối với hoạt động NQTM có yếu tố nước ngoài được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Về ngôn ngữ tại Nghị định 35/2006/NĐ-CP quy định: “Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập bằng tiếng Việt. Trường hợp nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, ngôn ngữ của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên thoả thuận”.

4.  Các bên cần phải thỏa thuận về việc chọn luật và cơ quan tài phán tại Việt Nam nếu có tranh chấp xảy ra. Mặc dù các bên có quyền chọn luật, cơ quan tài phán nước khác để giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của mình. Và điều lưu ý hơn thì cơ quan tài phán nước nào có thẩm quyền giải quyết lại đóng vai trò quan trọng cho vấn đề luật áp dụng – cũng có nghĩa là tới kết quả phán quyết sau này.

5.  Cần xem xét đầy đủ các yếu tố có tính văn hoá của các bên để tránh phát sinh những mâu thuẫn không đáng có (kể cả vô ý hay cố ý) trong quá trình thực hiện hợp đồng. Những quy định trong hợp đồng không rõ ràng có thể xảy ra những ý hiểu khác nhau khiến 1 trong hai bên gây trở ngại, bất lợi cho bên kia khiến xảy ra tranh chấp.

Trân trọng.

BAN BIÊN TẬP - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.


(1) Theo số liệu thống kê từ Website của Cục SHTT:

http://www.noip.gov.vn/web/noip/home/vn?proxyUrl=/noip/cms_vn.nsf/vwDisplayContentNews/83A769EE0A38795A47257B1E00290672?OpenDocument