1. Luật sư tư vấn về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông ?

Khi tham gia giao thông việc vi phạm luật hoặc gây tai nạn giao thông là điều không ai mong muốn. Tuy nhiên thái độ và cách ứng xử của người trong cuộc ngay sau tai nạn lại là điều đáng bàn. Gần đây có rất nhiều trường hợp tài xế vi phạm luật, thậm chí sau khi gây tai nạn đã bỏ chạy khỏi hiện trường, không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát và chống người thi hành công vụ.

Luật sư Lê Minh Trường tham gia trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông ?

Tại sao người điều khiển phương tiện giao thông lại lựa chọn cách giải quyết vụ việc như vậy ? Vì họ muốn trốn tránh trách nhiệm hay vì pháp luật chưa nghiêm ? Đây là nội dung cuộc trao đổi giữa BTV Thanh Hương với hai vị khách mời: PGS-TS Nguyễn Thị Hoa, trưởng phòng tâm lý học ứng dụng, Viện tâm lý và Luật sư Lê Minh Trường, Giám đốc điều hành Công ty Luật Minh Khuê và các cộng sự (Diễn đàn các vấn đề xã hội 2/3)

Luật sư Trường tại phòng thu VOV2 

Công ty luật Minh Khuê trích đăng một số ý kiến của Luật sư: Lê Minh Trường - Giám đốc điều hành Luật Minh Khuê để Quý khách hàng tham khảo:

 

1. Ngoài yếu tố tâm lý, ở góc độ pháp luật, ông Lê Minh Trường chia sẻ như thế nào trước tình trạng gia tăng số người lái xe gây tai nạn rồi bỏ chạy ? Liệu có phải do chế tài xử phạt cho hành vi này còn chưa đủ sức răn đe ?

Nói đến việc gây tai nạn giao thông tức là có vi phạm pháp luật xảy ra, nếu như người điều khiển phương tiện giao thông tuân thủ đúng quy định của pháp luật về an toàn giao thông thì sẽ không xảy ra những vụ tai nạn không đáng có. Tuy nhiên, lỗi không tuân thủ quy định của pháp luật có thể đến từ 2 phía, có thể từ 1 bên hoặc cũng có thể do bên thứ 3.

Việc gây tai nạn giao thông rồi bỏ chạy cũng là một hành vi vi phạm pháp luật, việc bỏ chạy của 1 người sẽ làm cho những người khác “bắt chước”, hành vi này có thể khiến họ không cứu giúp, đưa người bị nạn đi cấp cứu và có thể dẫn đến hệ lụy là thiệt hại đến tính mạng của người khác.

Về chế tài xử phạt thì hành vi này cũng được quy định cụ thể trong nghị định 171/2013/NĐ-CP (văn bản thay thế: Nghị định 46/2016/NĐ-CP).

Ví dụ, xử phạt đối với người điều khiển ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô gây tai nạn giao thông mà không dừng lại thì bị xử phạt Theo quy định tại Điểm b khoản 6 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP:

“6. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

Hay đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy gây tai nạn rồi bỏ chạy thì bị xử phạt Theo quy định tại điểm d khoản 6 Điều 6 nghị định 171/2013/NĐ-CP:

“6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

Hoặc đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng gây tai nạn rồi bỏ chạy thì bị xử phạt Theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 7 Nghị định 171/2013/NĐ-CP (văn bản thay thế: Nghị định 46/2016/NĐ-CP):

“6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

Hoặc người điểu khiển xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ gây tai nạn giao thông cũng bị xử phạt Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 171/2013/NĐ-CP: Phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

 

2. Nhiều người cho rằng chính vì quy định khi xảy ra tai nạn người lái xe được phép rời khỏi hiện trường để đảm bảo an toàn tính mạng nên họ đã lợi dụng kẻ hở của pháp luật để trốn tránh trách nhiệm. LS nghĩ sao về ý kiến này ?

Về mặt pháp luật, hiện nay vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định hay cho phép người điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn được phép rời khỏi hiện trường, thậm chỉ còn có quy định cấm về việc bỏ chạy. Cụ thể,

Điều 38 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định về trách nhiệm của người điều khiển phương tiện gây tai nạn như sau:

Điều 38. Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông.

1. Người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:

a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;

b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứuhoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;

c) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.

Hay Khoản 17, 18 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

18. Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông.

Căn cứ vào các quy định trên thì có thể thấy được rằng đây là một nguồn tin không chính thống, chỉ là do một bộ phận người dân dựa trên những biểu hiện của gia đình người bị hại và tâm lý của người gây tai nạn giao thông nên mới đưa ra ý kiến đó.

Việc gây tai nạn rồi bỏ trốn còn là 1 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu vụ tai nạn đó có dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông. Cụ thể, Điều 202 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

….”

3. Xin trở lại với vụ tai nạn giao thông trên cầu vượt Thái Hà. Người lái xe bỏ chạy trong tâm lý hoảng loạn đã tiếp tục gây tai nạn cho một loạt các phương tiện khác khiến nhiều người bị thương và đến khi không thể chạy được nữa thì lái xe taxi đã xuống xe và nhảy từ trên cầu xuống. Trong câu chuyện này nếu như ngay từ đầu, khi xảy ra tai nạn, người lái xe taxi bình tĩnh dừng xe giải quyết vụ việc thì hậu quả đã không đau lòng đến như vậy. Thưa ông Trường, trong trường hợp bỏ chạy mà gây hậu quả nghiêm trọng thì có bị xem là tình tiết tăng nặng hay không ?

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bỏ trốn không phải tình tiết tăng nặng, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng lại là một trong những tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm k khoản 1 Điều 48 BLHS. Còn bỏ trốn chỉ là 1 tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 điều 202 BLHS.

Bên cạnh đó, nếu người này tiếp tục bỏ chạy rồi gây ra những vụ tai nạn khác nữa mà hậu quả xảy ra là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ bị truy cứu TNHS ở khoản 2 hoặc khoản 2 Điều 202 BLHS:

“2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

……

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

4. Thưa LS Lê Minh Trường, theo quy định của pháp luật, trong tình huống người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây tai nạn và cố tình bỏ chạy, hoặc khi vi phạm không dừng lại theo hiệu lệnh của cảnh sát sẽ bị xử lý như thế nào ?

Về vấn đề người điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn và cố tình bỏ chạy thì sẽ bị xử phạt Theo các quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP như sau tùy vào từng loại phương tiện:

  • xử phạt đối với người điều khiển ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô gây tai nạn giao thông mà không dừng lại thì bị xử phạt Theo quy định tại Điểm b khoản 6 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP (văn bản thay thế: Nghị định 46/2016/NĐ-CP):

“6. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.”

- Xử phạt đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy gây tai nạn rồi bỏ chạy thì bị xử phạt Theo quy định tại điểm d khoản 6 Điều 6 nghị định 171/2013/NĐ-CP:

“6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;”

- Xử phạt đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng gây tai nạn rồi bỏ chạy thì bị xử phạt Theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 7 Nghị định 171/2013/NĐ-CP(văn bản thay thế: Nghị định 46/2016/NĐ-CP):

“6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.”

- Người điểu khiển xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ gây tai nạn giao thông cũng bị xử phạt Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 171/2013/NĐ-CP: Phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

 

5. Theo ông những quy định về mặt chế tài như vậy đã thực sự chặt chẽ trong bối cảnh hiện nay hay chưa ? Để có thể “siết” lại trách nhiệm của người gây tai nạn, theo ông, cơ quan chức năng và các quy định về mặt pháp luật phải có biện pháp cũng như sửa đổi, điều chỉnh như thế nào ?

Về góc độ pháp luật thì mức xử phạt hiện hành cũng không phải là thấp hay lỏng lẻo, vấn đề chấp hành hay không chấp hành việc dừng xe khi gây tai nạn giao thông nằm ở ý thức và tâm lý của gây tai nạn. 

Về vấn đề siết chặt hơn quy định của pháp luật thì không phải ai cũng có thể biết và bình tĩnh để có thể suy tính được rằng khi mình bỏ trốn thì mình sẽ bị xử phạt như thế nào? Lúc đó họ chỉ tâm niệm rằng, nếu họ ở lại có thể gia đình bị hại sẽ hành hung họ, hoặc nếu họ ở lại và bị phát hiện thì họ sẽ phải bồi thường rất nhiều cho người bị hại hoặc có thể sẽ bị truy cứu TNHS.

Về vấn đề này, việc trước hết là nên tuyên truyền những quy định của pháp luật đến mọi người để họ hiểu được trách nhiệm của họ khi gây tai nạn giao thông.

 

6. Như ít phút trước chúng ta cũng đã phân tích, có một số trường hợp sau khi xảy ra tai nạn giao thông, nhiều người đã thiếu kiềm chế "nhảy vào" đánh người gây tai nạn, có trường hợp nặng đã gây chết người. Và đó cũng chính là một lý do tạo ra tâm lý hoảng sợ cho lái xe và buộc họ phải bỏ chạy. Vậy thưa LS, với những hành vi này pháp luật cần phải quan tâm và quy định như thế nào ?

Thực ra về vấn đề này, khi người nhà của nạn nhân bị kích động do thân nhân của mình bị thương tích hoặc thiệt hại đến tính mạng do tai nạn giao thông, có thể họ sẽ không kiềm chế được mà hành hung người gây tai nạn. Vấn đề người gây tai nạn phải chịu trách nhiệm là nghĩa vụ của họ, còn thân nhân của người bị thiệt hại mà gây thương tích cho họ là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy Theo tính chất và mức độ có thể bị truy cứu TNHS Theo quy định tại Điều 104 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 105 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), hoặc Điều 95 (Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh).

 

7. Trong rất nhiều vụ việc gây tai nạn giao thông rồi bỏ chạy, có nhiều người là quan chức, họ thừa trình độ để hiểu về mặt pháp luật nhưng vẫn ứng xử thiếu hiểu biết như vậy. Theo LS Trường, với những người như vậy có cần phải có khung hình phạt nghiêm khắc hơn, tạo ra niềm tin ở luật pháp ?

Thực ra, vấn đề xử phạt vi phạm hành chính là xử phạt chung cho người tham gia giao thông, chưa có chế tài xử phạt riêng hay tình tiết tăng nặng trong trường hợp người tham gia giao thông là người có chức vụ, quyền hạn. Việc họ nắm được quy định của pháp luật là 1 phần, nhưng họ có ý thức chấp hành hay không thì lại phụ thuộc vào yếu tố tâm lý.

Ví dụ: Nếu 1 người gây tai nạn giao thông ở 1 con đường vắng lúc buổi trưa, trên đường không có ai đi lại, họ sẽ nảy sinh ra ngay ý nghĩ là sẽ không dừng lại đưa người bị nạn đi bệnh viên mà sẽ tiếp tục lái xe đi. Tuy nhiên không phải ai cũng có hành vi này, cũng có bộ phận tham gia giao thông dừng lại cứu giúp người bị nạn, đưa người bị nạn đi cấp cứu. Cho nên, việc dừng lại hay bỏ chạy là vấn đề ý thức là chủ yếu.

 

2. Bị tai nạn giao thông có được xét hưởng chế độ khuyết tật không?

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Chế độ trợ cấp, thủ tục và hồ sơ xin hưởng chế độ khuyết tật được quy định tại Luật người khuyết tật 2010 và Nghị định 28/2012/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật người khuyết tật. 

 

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 44 Luật người khuyết tật năm 2010 :

1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;

b) Người khuyết tật nặng.

2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:

a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;

b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;

c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Như vậy chế độ trợ cấp xã hội cho người khuyết tật chỉ áp dụng đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng căn cứ theo kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật hoặc Hội đồng giám định y khoa.

Theo thông tin bạn cung cấp, người nhà bạn bị tai nạn giao thông dẫn đến đi lại khó khăn và không thể làm công việc nặng, thường xuyên phải ở viện để châm cứu và điều trị. Trong trường hợp này, nếu như có kết luận của Hội đồng xác định thương tật và mức độ thương tật của người nhà bạn đáp ứng đủ điều kiện được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng đối với người khuyết tật theo quy định của pháp luật thì người nhà bạn hoàn toàn có quyền được hưởng chế độ.

Theo đó, thủ tục, hồ sơ và trình tự đề nghị hỗ trợ, trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng đối với người khuyết tật được thực hiện như sau:

 

1. Xác định mức độ khuyết tật:

Để được xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc thân nhân người khuyết tật gửi đơn và tờ khai (theo mẫu) đến hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã.

Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã tổ chức họp đánh giá, xác định mức độ khuyết tật đối với người khuyết tật ở 3 mức độ: Khuyết tật đặc biệt nặng, khuyết tật nặng và khuyết tật nhẹ và cấp Giấy xác nhận mức độ khuyết tật cho người khuyết tật. 

Người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng được đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng.

Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật không đồng ý với kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật gửi đơn đến UBND cấp xã nơi người khuyết tật cư trú.

 

2. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật bao gồm:

- Tờ khai thông tin của người khuyết tật.

- Bản sao giấy xác nhận khuyết tật.

- Bản sao sổ hộ khẩu.

- Bản sao giấy khai sinh hoặc chứng minh nhân dân.

- Biên bản của Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội cấp xã.

3. UBND xã hướng dẫn người khuyết tật hoàn thiện hồ sơ như trên, gửi hồ sơ về Phòng Lao động TB&XH thẩm định, tham mưu UBND huyện Quyết định trợ cấp cho người khuyết tật".

Do vậy, đối với trường hợp này, nếu người nhà bạn đủ điều kiện được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng đối với người khuyết tật gia đình bạn cần gửi đơn và tờ khai theo mẫu tại Nghị định 28/2012/NĐ-CP đến hội đồng để xác định mức độ khuyết tật. Sau đó bạn chuẩn bị những giấy tờ như trên để hoàn thiện hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp xã hội.

 

3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông được xác định như thế nào ?

Công ty Luật Minh Khuê xin giải đáp thắc mắc của khách hàng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông như sau:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông được xác định như thế nào ?

Luật sư tư vấn về trách nhiệm hình sự, dân sự khi để ra tai nạn giao thông - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Để xác định trách nhiệm của người gây thiệt hại do tai nạn giao thông gồm những gì. Ta xét trên hai phương diện bồi thường theo luật dân sự và trách nhiệm hình sự được quy định trong Luật hình sự năm 1999 (luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009); Luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

 

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông:

a, Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

​Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

- Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

- Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

+ Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

- Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

b, Bồi thường thiệt hại do dùng chất kích thích

- Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

- Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của họ mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

c, Bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

d, Bồi thường thiệt hại của pháp nhân

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

2. Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

 

3. Mức bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông:

- Gây thiệt hại về tài sản :trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

+ Tài sản bị mất;

+ Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

+ Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

- Gây thiệt hại về sức khỏe

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

- Gây thiệt hại về tính mạng

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

 

4. Trách nhiệm hình sự khi xảy ra tai nạn giao thông

Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật dân sự 2005 ở trên, người gây tai nạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu có căn cứ

- Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp sau:

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng được hiểu như sau: 

+ Làm chết một người;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

+ Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

+ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

+ Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

+ Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

5. Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên

- Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự

- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. 

- Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. 

- Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. 

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

- Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

+ Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù ;

+ Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

 

>> Tham khảo thêm các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề trên:

Văn bản hợp nhất 25/VBHN-BTC năm 2014 hợp nhất Nghị định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do Bộ Tài chính ban hành

Nghị định số 103/2008/NĐ-CP của Chính phủ : Về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

-Nghị định số 214/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.

Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

Trên đây là những nội dung cung cấp về trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông, các bạn có thể dựa vào thông tin trên để trả lời câu hỏi của mình.

Sau đây là nội dung tư vấn cho câu hỏi có tính chất riêng biệt:

Tôi có một người anh trai đang đi bộ trên đường thì bị hai người đi xe môto tông vào trong đó người gây tai nạn là môt người Pháp đi du lịch ở Việt Nam cùng đi chung là một người việt nam ngồi phía sau. Kết quả giám định của bác sy là gãy 1/3 xương đùi phải mổ. Vậy xin hỏi luật sư hình thức bồi thường của người gây ra tai nạn như thế nào ? người gây ra tai nạ có đó là người nước ngoài vậy họ có được quyền về nước khi chưa giải quyết xong vấn đề tai nạn mà họ gây ra không ?

Bạn tham khảo về mức bồi thường theo hướng dẫn ở trên. Việc người nước ngoài trên có quyền về nước hay không thì tại Điều 27 và 28 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định về điều kiện xuất cảnh như sau:

"Điều 27. Điều kiện xuất cảnh

Người nước ngoài được xuất cảnh khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế;

2. Chứng nhận tạm trú hoặc thẻ tạm trú, thẻ thường trú còn giá trị;

3. Không thuộc trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh quy định tại Điều 28 của Luật này.

Điều 28. Các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh và thời hạn tạm hoãn xuất cảnh

1. Người nước ngoài có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đang là bị can, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc đang là bị đơn, người bị kiện, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình;

b) Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý cạnh tranh;

c) Chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;

d) Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

đ) Vì lý do quốc phòng, an ninh.

2. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị dẫn giải ra nước ngoài để cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 25 của Luật Tương trợ tư pháp.

3. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá 03 năm và có thể gia hạn. "

Do bạn không cung cấp đầy đủ thông tin nên chúng tôi không xác định được người đó có đang trong diện điều tra vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ hay đang chấp hành quyết định xử phạt hành chính không? Bạn có thể xác nhận lại hai vấn để trên tại đơn vị cảnh sát giao thông nếu vụ tai nạn đã được đơn vị cảnh sát giao thông tiếp nhận hoặc khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại tại tòa án nhân dân tỉnh nơi người đó đang tạm trú . Nếu không thuộc các trường hợp tại khoản 1 Điều 28, người nước ngoài đó hoàn toàn có quyền xuất cảnh. 

>> Xem thêm: Vi phạm tai nạn giao thông gây hậu quả chết người xử lý ra sao?

4. Trách nhiệm bồi thường khi gây tai nạn giao thông theo quy định hiện nay ?

Công ty Luật Minh Khuê xin giải đáp thắc mắc của khách hàng về bồi thường khi gây tai nạn giao thông theo quy định hiện hành để quý khách hàng tham khảo và vận dụng trên thực tiễn:

Trách nhiệm bồi thường khi gây tai nạn giao thông theo quy định hiện nay ?

Trả lời:

Để xác định trách nhiệm của người gây thiệt hại do tai nạn giao thông gồm những gì. Ta xét trên hai phương diện bồi thường theo luật dân sự và trách nhiệm hình sự được quy định trong  Luật hình sự năm 1999 (luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) (văn bản mới: bộ luật hình sự năm 2015)

 

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại 

a, Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

​Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

- Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

- Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

+ Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

- Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

b, Bồi thường thiệt hại do dùng chất kích thích

- Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

- Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của họ mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

c, Bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

d, Bồi thường thiệt hại của pháp nhân

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

2. Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

3. Mức bồi thường

- Gây thiệt hại về tài sản :trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

+ Tài sản bị mất;

+ Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

+ Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

- Gây thiệt hại về sức khỏe

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

- Gây thiệt hại về tính mạng

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

4. Trách nhiệm hình sự

Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật dân sự 2005 ở trên, người gây tai nạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu có căn cứ

- Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp sau:

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng được hiểu như sau: 

+ Làm chết một người;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

+ Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

+ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

+ Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

+ Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

5. Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm 

a, Phạm vi bồi thường 

- Thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra.

- Thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra.

b, Loại trừ trách nhiệm bồi thường

 Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:

- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe hoặc của người bị thiệt hại.

- Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới.

- Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắtbuộc phải có Giấy phép lái xe.

- Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụngvà khai thác tài sản bị thiệt hại.

- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

- Chiến tranh, khủng bố, động đất.

Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị nhưtiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

c, Nguyên tắc bồi thường

- Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại

- Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại

- Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả tai nạn

d, Mức bồi thường

- Mức bồi thường bảo hiểm về người: được xác định dựa trên Bảng quy định trả tiền bồi thườngthiệt hại về người theo quy định của Bộ Tài chính;

- Mức bồi thường thiệt hại về tài sản: được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

- Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệmbảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm đầu tiền

đ, Hồ sơ bồi thường 

Doanh nghiệp bảo hiểm lập

- Tài liệu liên quan đến xe, lái xe;

- Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người và tài sản;

- Tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn.

- Doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe cơ giới có trách nhiệm thu thập, cung cấp các tài liệu liên quan trong hồ sơ bồi thường.

e, Thời hạn yêu cầu bồi thường

- Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới là 1 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc lý do khách quan

- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ trường hợp bất khả kháng), chủ xe cơ giới phải gửi thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo các tài liệu quy định trong hồ sơ yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới

- Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới và không quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ

Thời hiệu khởi kiện bồi thường bảo hiểm : 3 năm kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường

Trên đây là những nội dung cung cấp về trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông, các bạn có thể dựa vào thông tin trên để trả lời câu hỏi của mình.

 

5. Không có lỗi khi gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào?

Chào Luật sư, Anh trai tôi điều khiển phương tiện đang lưu thông trên đường. Trong khi xi nhan sang đường anh tôi bị đâm mạnh từ phía sau một cách bất ngờ. Cú đâm mạnh khiến anh trai tôi bị thương nhưng người đâm lại chết. Công an nói anh trai tôi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy có đúng không ạ? Vấn đề bồi thường như thế nào ạ? Cảm ơn!

 

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn, Vấn đề xác định anh trai bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào kết quả điều tra chính thức của cơ quan công an xem anh trai bạn có lỗi hay không. Nếu vụ tai nạn xảy ra không do lỗi của anh trai bạn thì anh trai bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vụ tai nạn xảy ra theo lỗi của anh trai bạn thì anh trai bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Các yếu tố để xác định lỗi được hướng dẫn tại Điều 3 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC như sau:

Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự) 

1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản. 

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại Điều 99 Bộ luật hình sự hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 227 Bộ luật hình sự. 

2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây: 

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia; 

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn; 

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.” 

Về vấn đề bồi thường thiệt hại

Căn cứ Khoản 3, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như sau: Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về việc xác định các trường hợp không phải bồi thường thiệt hại được quy định chi tiết tại Điểm c, Khoản 2, Mục 3 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP như sau:

c) Về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây: 

- Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. 

Ví dụ: Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết. Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô tô) gây ra. 

- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cần chú ý là trong trường hợp pháp luật có quy định khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.

Như vậy, nếu anh trai anh thuộc các trường hợp trên thì sẽ không phải bồi thường thiệt hại. Còn nếu xác định lỗi do anh trai anh thì anh ấy sẽ vẫn phải bồi thường thiệt hại. Mức bồi thường thiệt hại do tính mạng được quy định tại Điều 610, Bộ luật dân sự 2005 như sau:

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định

Cụ thể về cách xác định các mức bồi thường được quy định chi tiết tại Khoản 2, mục 2, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP như sau:

2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này. 

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ... 

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết. 

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường. 

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm. 

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng. 

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; 

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; 

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. 

2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm. 

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại. 

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. 

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại... 

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.”

 

6. Gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào?

 

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất: Trách nhiệm hình sự

Tại Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định như sau:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Tại Điều 3 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC có quy định như sau:

Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202  Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009

1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

Theo thông tin bạn trình bày bạn cùng một nhóm bạn đi hát Karaoke sau khi hát xong thì về nhà bằng xe máy, bạn có chở một người anh họ. Nhưng không may khi đi được một đoạn khoảng 3 km tính từ quán Karaoke thì xảy ra tai nạn anh họ của bạn ngồi ở phía sau bị ngã trước và bạn cũng bị ngã theo. Bạn điều khiển xe trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo không sử dụng rượu bia và không sử sụng chất kích thích, đã có giấy phép lái xe và bạn đi với tốc độ bình thường 35 - 40 Km/h. Căn cứ theo thông tin bạn trình bày thì việc anh trai bạn ngã xe do bạn điều khiển dẫn đến tử vong. Nếu lỗi của bạn không phải là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại về tính mạng cho anh trai bạn thì căn cứ theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC  bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 . Không rõ từ thời điểm sảy ra sự việc, bên phía cơ quan công an đã tham gia điều tra xác minh sự việc hay chưa, do vậy hiện nay bạn cần liên hệ trực tiếp với bên phía cơ quan công an để giải quyết sự việc.

Thứ hai: Vấn đề bồi thường dân sự

Tại Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 có quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Theo những thông tin bạn trình bày ở trên, đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 thì bạn sẽ phải bồi thường cho gia đình người bị hại. Trên nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ và kịp thời, các bên có thể thỏa thuận về việc bồi thường, nếu không thỏa thuận được một trong hai bên có quyền làm đơn và gửi Tòa án nhân dân để giải quyết. Trong trường hợp của bạn thì gia đình đã đề nghị thỏa thuận tuy nhiên gia đình bị hại không đồng ý và họ làm đơn gửi Tòa án nhân dân giải quyết.

Theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm như sau:

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Gia đình bên bạn có thể tham khảo quy định trên và các quy định tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP để có thể sử dụng làm căn cứ xác định mức bồi thường cho phù hợp.

>> Tham khảo thêm nội dung:  Lái xe uống rượu say, điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào ?

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê