1. Quy định về truất quyền thừa kế ?

Xin chào Luật Minh Khuê, cháu có vấn đề cần luật sư tư vấn như sau ạ: ông và bà cháu có 4 ng con: mẹ cháu là cả dưới còn 2 dì và 1 cậu. 1 dì đã được ông bà chia tài sản nên sẽ không nói đến nữa. Mảnh đất của ông bà hiện nay chia cho mẹ cháu, cậu và dì đã rõ ràng và đã xây nhà cửa đàng hoàng. Nhưng trước kia khi chia chỉ là nói bằng mồm không có bất cứ văn bản nào ?

Và hiện nay bà cháu đã mất. Giờ mẹ cháu có ý định bán căn nhà đang ở nhưng khi làm giấy ủy quyền để ông đứng tên bán mảnh đất cho mẹ cháu. Thì cậu không đồng ý với lý do cậu muốn bán luôn cái nhà cậu và ông đang ở. Cậu chỉ đồng ý khi bán liền cả 2 nhà. Mà nhà ông và cậu đang ở là nhà để hương hỏa không thể bán được. Hiện nay giấy ủy quyền đã có chữ kí của tất cả mọi thành viên trong gia đình trừ cậu cháu ra. Cháu muốn hỏi luật sư có cách nào để nhà cháu bán mảnh đất mà không cần đến ý kiến của cậu cháu không ? Ngay kể cả việc truất quyền thừa kế của cậu thì ông cháu và mọi thành viên cũng chấp nhận.

Cháu mong nhận được hồi âm sớm của luật sư. Cháu xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng
1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Theo đó, ngôi nhà mà cậu và ông bạn đang ở được bà và ông bạn để lại nhằm mục đích thờ cúng, và các thành viên trong gia đình cũng đồng ý nó dùng vào mục đích thờ cúng, không thể bán được. Như vậy, khi cậu bạn có ý định bán ngôi nhà - vi phạm nghĩa vụ thừa kế, khi đó, các thành viên trong gia đình có thể chỉ định người khác để quản lý ngôi nhà đó.

Về việc truất quyền thừa kế, Truất quyền hưởng di sản thừa kế là quyền của người lập di chúc được quy định trong Điều 626- Bộ luật dân sự 2015 Việc truất quyền hưởng di sản có thể được thực hiện bằng các hình thức:

Điều 626. Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Về việc bán căn nhà, Theo thông tin bạn cung cấp, có thể thấy rằng ngôi nhà và mảnh đất thuộc quyền sở hữu chung của các thành viên trong gia đình, theo quy định pháp luật như sau:

Điều 218. Định đoạt tài sản chung
1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.
5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.
6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này.

Điều 126. Mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung

1. Việc bán nhà ở thuộc sở hữu chung phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu; trường hợp có chủ sở hữu chung không đồng ý bán thì các chủ sở hữu chung khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua, nếu các chủ sở hữu chung không mua thì nhà ở đó được bán cho người khác.

Trường hợp có chủ sở hữu chung đã có tuyên bố mất tích của Tòa án thì các chủ sở hữu chung còn lại được quyền bán nhà ở đó; phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người bị tuyên bố mất tích được xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì các chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc bán phần quyền sở hữu nhà ở và điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì phần quyền đó được bán cho người khác; trường hợp vi phạm quyền ưu tiên mua thì xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.( Luật nhà ở 2014 )

Căn cứ quy định trên, để bán được căn nhà đó thì cần có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả những người là chủ sở hữu căn nhà, bao gồm cả cậu bạn. Tuy nhiên, khi cậu bạn không đồng ý bán thì những người còn lại có quyền làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết. Khi đó, người không đồng ý bán có quyền ưu tiên mua, trong thời hạn 3 tháng nếu người đó không mua thì những người còn lại có thể bán cho người khác.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

2. Hỏi về quyền thừa kế tài sản ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê! Tôi có một câu hỏi sau mong nhận được tư vấn từ công ty. Trong trường hợp người vợ viết giấy "khước từ tài sản" khi người chồng còn sống thì khi chồng mất có được thừa kế tài sản không? Và cho tôi hỏi là "khước từ tài sản" với " khước từ quyền thừa kế tài sản" có giống nhau không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hỏi về quyền thừa kế tài sản

Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Vấn đề từ chối nhận di sản

Căn cứ theo Điều 620 Bộ luật dân sự 2015

Điều 620. Từ chối nhận di sản
1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Như vậy, theo như pháp luật quy định thì việc từ chối nhận di sản thừa kế chỉ có hiệu lực trong vòng 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế - Thời điểm mở thừa kế được hiểu là thời điểm người có tài sản chết và phải được lập thành văn bản có sự công chứng.

Nên nếu người vợ viết giấy "khước từ tài sản" khi người chồng còn sống thì chưa có hiệu pháp luật, khi người chồng mất vẫn được nhận di sản thừa kế bình thường. Chỉ khi người chồng mất dựa theo thời gian mở thừa kế được ghi trong di chúc hoặc theo pháp luật người vợ đưa văn bản từ chối việc nhận tài sản thừa kế có công chứng trong thời gian 6 tháng, đồng thời thông báo cho những người thừa kế khác và UBNN nơi có địa điểm mở thừa kế thì việc từ chối nhận di sản thừa kế mới có hiệu lực.

2. Vấn đề "khước từ tài sản" với " khước từ quyền thừa kế tài sản" có giống nhau không:

Điều 612. Di sản
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Như vậy, có thể hiểu "Khước từ quyền thừa kế tài sản" là việc người được quyền nhận tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác được quy định trong di chúc hoặc theo pháp luật từ chối không nhận những tài sản này và hoàn toàn sẽ không quyền cũng như nghĩa vụ gì với những tài sản này. Từ này dùng trong trường hợp có sự việc thừa kế.

Còn đối với "khước từ từ sản" là một từ chung hơn không mang yếu tố cụ thể trong từng trường hợp nào, có thể dùng trong nhiều trường hợp hơn như: tặng, cho tài sản, thừa kế...

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

3. Tư vấn quyền thừa kế của đứa trẻ còn trong bụng mẹ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Cho em hỏi là việc đứa trẻ chưa được sinh ra nhưng có quyền hưởng thừa kế thì có mâu thuẫn gì với quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân không ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: D.P.D

Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 613. Người thừa kế
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Mặt khác, Khoản 1 Điều 660 BLDS 2015 có quy định:

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật
1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Theo như quy định trên, có thể thấy "thành thai trước khi người để lại di sản chết" chỉ là điều kiện cần để được hưởng thừa kế, còn điều kiện đủ phải là "sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế". Như vậy, thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế là thời điểm người thừa kế "sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế".

Và Điều 16,21 BLDS 2015 quy định:

Điều 21. Người chưa thành niên
1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Điều 16. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Như vậy, người thừa kế đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và còn sống sau thời điểm mở thừa kế tuy không có năng lực hành vi dân sự nhưng đã có năng lực pháp luật dân sự; doo đó có quyền hưởng thừa kế. Vì vậy, việc chưa sinh ra mà vẫn được hưởng thừa kế không hề mâu thuẫn với việc không có năng lực hành vi dân sự.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Con có quyền thừa kế khi bố mẹ đã ly hôn không ?

Chào luật sư, bố mẹ tôi ly hôn năm 1974, lúc đó tôi chưa sinh. Bây giờ không may bố tôi qua đời, xin hỏi luật sư tôi có quyền thừa kế không? Trong giấy khai sinh của tôi không ghi bố tôi trong đó ?
Xin cám ơn luật sư!

Con có quyền thừa kế khi bố mẹ đã ly hôn không?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

-> Như vậy nếu như bố mẹ bạn ly hôn nhưng bạn sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi bản án có hiệu lực, vậy bạn vẫn được xác định là con chung của bố mẹ. Hiện tại bố bạn không có tên trên giấy khai sinh không có nghĩa là bạn không có quyền thừa kế. Khi bố bạn mất bạn cần chứng minh được quan hệ cha con này.

Về việc xác định quan hệ huyết thống:

Quan hệ huyết thống được xác định căn cứ vào các tài liệu pháp lý: giấy khai sinh, giấy chứng sinh hoặc các chứng cứ liên quan đến quan hệ huyết thống. Để xác định quan hệ huyết thống của bố bạn với bạn cần có tài liệu cũng như bằng chứng chứng minh sự tồn tại quan hệ huyết thống. Khi có bất kỳ cơ sở nào bạn có thể thực hiện việc giám định ADN để có thể nhận được kết quả chính xác nhất. Sau đó bạn làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế là được.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Giả mạo giấy tờ có bị tước quyền thừa kế ?

Ba tôi mất 94 không để di chúc , trước đây (2001) chị tôi xin cấp chủ quyền tự khai là đất ba cho .
khi phát hiện , những đồng thừa kế ngăn cản , và bây giờ nha tren đã ra chủ quyền cho tất cả đồng thừa kế.
Như vậy, với hành vi giả mạo giấy tờ của chị tôi (như lúc trước ) tôi có thể kiện ra toà đê tước quyền thừa kế của bả được không ?"
Xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 621, Bộ luật dân sự 2015 quy định về đối tượng không được hưởng di sản:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy, chị của bạn chỉ bị tước quyền thừa kế khi có một trong những hành vi quy định tại điều 621, nhưng vì bạn không nói rõ hành vi giả mạo giấy tờ có phải là chị ấy có hành vi giả mạo di chúc không nên chúng tôi không thể kết luận được. Bạn có thể dựa vào nội dung trên để trả lời cau hỏi của mình

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật