1. Ví dụ về chia di sản thừa kế khi có con ngoài giá thú ?

Thưa luật sư, ông a và bà b là vợ chồng hợp pháp, có 3 người con chung là c (sinh năm 1997), d (sinh năm 1999) và em (sinh năm 2001), trong đó, d bị nhiễm chất độc màu da cam, không có khảnăng nhận thức, không đi lại được. Năm 2002, ông a chung sống không hợp pháp với bà m và có 1 người con là n (sinh năm 2003). Tháng 2/2017,ông a chết.
Trước khi chết, ông a có lập di chúc để lại ½ tài sản cho n, phầntài sản còn lại không có di chúc. Biết tài sản chungcủa ông a với bà b là 600 triệu, của ông a với bà m là 150 triệu, cha mẹ củaông a đều chết trước ông a. Vậy phải chia tài sản như thế nào đối với b, c,d,e và m ạ ?
Cảm ơn luật sư nhiều ạ.

Luật sư trả lời:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì:

A+B = 600 => A = B= 300 TR

A+M = 150 => A= M = 75 TR

Vì 75 triệu của A có được trong thời kỳ hôn nhân nên A phải chia cho B 1/2 tài sản của 75 triệu.

=> Di sản thừa kế của A = 337.5 triệu.

1. Gỉa sử di chúc là hợp pháp:

N = 337.5 : 2 = 168.75 triệu

2. Tài sản 167.5 triệu còn lại của A Sẽ được chia theo pháp luật:

B = C = D = E = N = 168.7.5 : 5 = 33.75 triệu

3. Theo Điều 644 Bộ luật dân sự:

Tài sản của A theo pháp luật 337.5 : 5 = 67.5 triệu

=> 2/3 của 1 suất = 45 triệu

=> B = D = E = 33.75 Triệu chưa đủ 2/3 của 1 suất nên mỗi người phải được hưởng thêm 11.25 triệu từ N.

( VÌ B, D, E thuộc trường hợp hưởng di sản theo điều 644 Bộ luật dân sự)

Như vậy:

B = 337.5 + 45 = 382.5 TR

D = E = 45 TR

C = 33.75

M = 75 TR

N = 168.75 + 33.75 - ( 11.25 x 3 ) = 168.75 tr

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

2. Cách phân chia di sản thừa kế theo di chúc ?

Thư luật sư, tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: có hộ bà Nguyễn A, trong hộ khẩu của bà có cháu Nguyễn B ngoài ra ko có khẩu nào khác vì các con đã lớn và đã có gia đình. Bà có 2 miếng đất I & II. Trong di chúc làm trong miếng đât I ( đã có sổ Quyền sử dụng đất) bà để lại chia đều cho 7 đứa cháu khác ( 1234567). Miếng đất thứ II (chưa có sổ quyền sử dụng đất) bà để lại cho đứa cháu.

Nguyễn B. Vậy cho tôi hỏi:

1. Bây giờ bà A muốn bán một phần trong miếng đất thứ II cho 1 người khác thì có được không? nếu được thì sau này theo di chúc phần đất để lại cho đứa cháu Nguyên B bị thiếu hụt thì phải như thế nào?

2. Miếng đất 1 mà bà A để lại chia đều cho 7 đứa cháu khác thì có ảnh hưởng gì đến đứa cháu Nguyễn B không? vì Nguyễn B vẫn nằm trong khẩu của bà A.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn cách phân chia di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, bây giờ bà A muốn bán một phần trong miếng đất thứ II cho 1 người khác thì có được không? nếu được thì sau này theo di chúc phần đất để lại cho đứa cháu Nguyên B bị thiếu hụt thì phải như thế nào?

Trong trường hợp này bà A vẫn có quyền bán một phần trong miếng đất thứ II cho người khác tuy nhiên thì bà A phải sửa đổi nội dung của di chúc căn cứ quy định tại điều 640 Bộ luật dân sự năm 2015) như sau:

"

Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.

2. Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

3. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.

.

Việc lập di chúc là do ý chí của bà A, do đó khi bà A đã sửa đổi di chúc thì khi di chúc có hiệu lực cháu Nguyễn B chỉ được hưởng phần thừa kế mà trong di chúc đã sửa đổi.

Thứ hai, miếng đất 1 mà bà A để lại chia đều cho 7 đứa cháu khác thì có ảnh hưởng gì đến đứa cháu Nguyễn B không? vì Nguyễn B vẫn nằm trong khẩu của bà A.

Căn cứ quy định tại điều 644, Bộ luật dân sự năm2015 thì:

"

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

".

Như vậy, nếu như cháu Nguyễn B thuộc 1 trong 2 trường quy định tại điều 669 trên miếng đất mà 7 cháu khác được hưởng sẽ được pháp luật chia thêm cho cháu Nguyễn B. Việc cháu Nguyễn B có trong sổ hộ khẩu cùng bà Nguyễn A nếu không thuộc các trường hợp theo quy định trên thì việc sử dụng miếng đất của 7 cháu khác không ảnh hưởng gì đến cháu Nguyễn B.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến gọi: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

3. Phân chia di sản thừa kế theo quy định ?

Xin chào Luật Minh Khuê ! Gì em với dượng em kết hôn 10 năm nay và có 2 đứa con gái. Không may trên đường đi làm về dượng bị tai nạn và chết và không để lại di chúc. Biết rằng trong 10 năm nay cả Gì với dượng có khối tài sản chung là 1,5 tỷ.
Giờ chia tài sản như thế nào? Bố dượng cũng vừa mất chỉ còn mẹ thôi. Trong trường hợp này nếu bố dượng mất rồi thì có chia cho người kế vị hàng 2 không ạ ?
Mong luật sư giải đáp.

Luật sư tư vấn :

Trường hợp khi dượng bạn mất do bị tai nạn không để lại di chúc thì phần di sản đó sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Theo Điều 650 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật bao gồm:

“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây theo Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015 :

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy khi dượng bạn mất không để lại di chúc, sẽ chia theo pháp luật. Theo quy định trên hàng thừa kế thứ nhất sẽ chia đều cho mẹ đẻ, vợ và các con. Trong 10 năm dì và dượng bạn có khối tài sản là 1,5 tỷ như vậy sẽ xác lập đó là khối tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi. Vậy mỗi người sẽ có 750 triệu, chỉ chia phần di sản của dượng là 750 triệu cho mẹ, vợ và 2 con là 4 người. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Ngoài ra những người thừa kế được hưởng di sản đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại cũng như phải thanh toán các khoản chi phí liên quan đến di sản thừa kế nếu có. Bản chất của việc thanh toán di sản thừa kế chính là việc một người còn sống, sử dụng tài sản mà người chết để lại và thay người đó để thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, đồng thời trích ra một phần tài sản để bù cho chi phí phát sinh khi người đó chết cũng như chi phí trong việc quản lý di sản và phân chia di sản.

Nếu như dượng bạn có nghĩa vụ về tài sản khi mất thì những người thừa kế phải thanh toán hết phần đó,quy định cụ thể tại Điều 658 BLDS như sau:

Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng : Là những chi phí phát sinh từ việc lo tang lễ, chôn cất người chết. Những chi phí này phải được xác định trên cơ sở kết hợp giữa sự cần thiết phải chi và sự phù hợp với phong tục, tập quán của từng địa phương.

Tiền cấp dưỡng còn thiếu : Là khoản tiền mà người chết khi còn sống phải thực hiện đối với người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Chi phí cho việc bảo quản di sản : Bao gồm tiền chi trả cho việc người bảo quản di sản đã cố duy trì giá trị của di sản và khoản tiền thù lao mà người đó được hưởng (nếu có).

Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ : Người sống nương nhờ là người sống trong hoàn cảnh cô đơn, tàn tật, không có khả năng kiếm sống nên phải hoàn toàn nương nhờ vào người chết khi người này còn sống. Thông thường, người sống nương nhờ không phải là người thừa kế của người chết.

Tiền công lao động : Là khoản tiền phải trả cho công sức của người lao động trong trường hợp nếu người để lại di sản lúc còn sống đã mua sức lao động của người đó. Khoản tiền này được xác định theo hợp đồng lao động hoặc theo các hợp đồng dân sự khác mà người để lại di sản phải chi trả, nhưng chưa kịp trả thì đã chết.

Tiền bồi thường thiệt hại : Bồi thường thiệt hại là một hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại.

Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước : Bao gồm các khoản tiền mà một người phải nộp tính theo từng loại thuế đối với Nhà nước, cùng với các khoản tiền mà họ còn nợ Nhà nước nhưng họ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa hết thì đã chết.

Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân : Là những khoản tiền hoặc những lợi ích vật chất khác mà người chết chưa thanh toán hoặc chưa kịp thanh toán cho cá nhân, pháp nhân được xác lập thông qua các giao dịch dân sự. Khi chưa thực hiện các khoản nợ nói trên mà người đó đã chết thì căn cứ vào các giao dịch để xác định khoản tiền mà chủ nợ được quyền thanh toán từ di sản.

Tiền phạt : Bao gồm những khoản tiền do bị xử phạt hành chính, hình sự hoặc những khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng…

Các chi phí khác : Ngoài các khoản được xác định theo thứ tự trên, thì trước khi hưởng di sản, người thừa kế phải trừ di sản để thanh toán khoản chi phí khác (nếu có) như chi phí cho việc vận chuyển di sản, tiền sửa chữa khi di sản hư hỏng…

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Chia di sản thừa kế không có di chúc ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ chồng tôi có hai mảnh đất, 1 mảnh là 160m2 còn 1 mảnh là bao gồm nhà ở và ốt đang cho thuê mỗi tháng 2tr còn các năm trước là em gái lấy .còn mảnh thứ hai là 100m2, lúc mẹ chồng tôi mất thì không lập di chúc tài sản trên đều do mẹ làm ra còn bố thì không có , lúc sống toàn đánh bài và đánh đập. Xin hỏi pháp luật quy định phân chia tài sản thừa kế như thế nào nếu không để lại di chúc ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Điều 650 (Bộ luật Dân sự năm 2015) quy định các trường hợp thừa kế theo pháp luật, bao gồm cả trường hợp không có di chúc. Như vậy, trường hợp của bạn di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật.

Theo quy định tại điều 676 Bộ luật Dân sự thì 5 người con của bà cố bạn sẽ được chia thừa kế theo hàng thứ nhất, mỗi người đều được hưởng phần di sản bằng nhau, cụ thể:

"

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

"

Theo như bạn trình bày thì bà Mười - con bà cố bạn, mất trước bà cố và có một người con gái, theo quy định tại điều 677 Bộ luật Dân sự thì con bà Mười sẽ được nhận phần di sản thừa kế của bà cố bạn để lại:

"

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

"

Trong trường hợp này, bà ngoại bạn thuộc hàng thừa kế di sản mà bà cố bạn để lại vì vậy bà ngoại bạn phải ký tên vào giấy quyền thừa kế để cơ quan có thẩm quyền xác định người được hưởng thừa kế và chia thừa kế cho đúng quy định.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Có khởi kiện được khi đã hết thời hiệu thừa kế ?

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Xác định thời hiệu chia di sản thừa kế ?

Kinh chao luat sư! Tôi có vụ kiện tranh chấp thừa kế đất đai. Bố tôi mất 28/2/2005 Mẹ tôi mất năm 2009, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền cấp cho mẹ tôi, năm 2004 mẹ tôi cho tôi va được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. Bố mẹ tôi có 8 người con Năm 2010 chị tôi huy động anh em kiện tôi chia thừa kế, đất do tôi quản lý sử dụng. Tháng 2/2015 chị tôi có đơn kiện ở xã mở thủ tục thừa kế, uỷ ban xã hoà giải nhưng không thành, đến 18/10/2015 chị tôi gửi đơn kiện đến toà án chia thừa kế Trong trường hợp này có chia thừa kế đươc không?
Xin luật sư tư vấn giùm tôi, tôi cám ơn rất nhiều. Trân trọng!

Ví dụ về chia di sản thừa kế trong trường hợp có con ngoài dã thú.

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 623 bộ luật dân sự 2015

"

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

Như vậy mặc dù bố anh mất từ năm từ năm 2005 nhưng tới năm 2015 chị anh khởi kiện yêu cầu chia di sản dù thời hiệu đã hết nhưng các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế thì Tòa án vẫn tiến hành thụ lý và giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài