1. Buộc tội là gì?

Buộc tội, theo Từ điển Tiếng Việt, là “buộc vào một tội gì, bắt phải nhận tội, phải chịu tội”. Định nghĩa này phản ánh cách sử dụng từ “buộc tội” trong ngôn ngữ phổ thông, không thể hiện được bản chất của buộc tội trong tố tụng hình sự. Trong khoa học pháp lý, khái niệm buộc tội tuy được sử dụng nhiều song vẫn còn nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau.

Theo Từ điển Luật học, buộc tội là “ghép cho ai một việc bị luật hình sự trừng phạt”; hay “buộc tội là luận tội”. Theo quan điểm này, buộc tội bắt đầu từ thời điểm xét xử tại phiên tòa, người thay mặt nhà nước gán ghép cho một người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội thì đó là thực hiện sự buộc tội.

Có quan điểm khác cho rằng “buộc tội là kết luận của Viện kiểm sát trước phiên tòa về hành vi phạm tội của bị cáo, dựa trên cơ sở phân tích chứng cứ, vận dụng các điều, khoản pháp luật đã quy định. Kiểm sát viên có quyền buộc tội nhưng việc kết tội lại thuộc về quyền của Tòa án” . Những quan điểm trên đã đề cập tới vai trò của Viện kiểm sát trong việc buộc tội, cơ sở để buộc tội là các quy định pháp luật và kết quả đánh giá chứng cứ đồng thời đã phân định giữa việc buộc tội của Viện kiểm sát và việc kết tội (xét xử) của Tòa án. Tuy nhiên, quan điểm này nhìn hoạt động buộc tội ở phạm vi rất hẹp cả về chủ thể và phạm vi giai đoạn tố tụng, chưa thể hiện đầy đủ các hoạt động buộc tội trong tố tụng hình sự mà chỉ đề cập tới việc buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, tác giả Nguyễn Văn Hiển cho rằng “Buộc tội thực chất là giả thiết cho rằng một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội và bằng các hoạt động được pháp luật tố tụng hình sự cho phép chủ thể buộc tội đi chứng minh giả thiết đó”.

2. Chủ thể buộc tội

Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khác nhau về buộc tội, việc phân định chủ thể tố tụng hình sự theo chức năng tố tụng, nội dung, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và mục đích của chức năng buộc tội (CNBT) có thể đưa ra khái niệm chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự như sau:

Chủ thể buộc tội là chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nhằm đưa ra cáo buộc về TNHS đối với người bị buộc tội và chứng minh tính có căn cứ, hợp pháp của cáo buộc đó, góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự.

Từ định hướng hoạt động của các chủ thể trong tố tụng hình sự, các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể, có thể xác định phạm vi các chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam gồm: CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, bị hại và người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong một số trường hợp.

3. Buộc tội có đặc điểm gì?

- Thứ nhất, chủ thể buộc tội chỉ tồn tại trong tố tụng hình sự. Như đã phân tích, CNBT là chức năng riêng có của tố tụng hình sự. Vì vậy, chủ thể thực hiện CNBT cũng chỉ tồn tại trong tố tụng hình sự. Một cơ quan cụ thể, ví dụ như Viện kiểm sát tại Việt Nam, có thể là chủ thể trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính song chỉ trong tố tụng hình sự Viện kiểm sát mới tham gia với tư cách là chủ thể buộc tội, có các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm thực hiện CNBT.

- Thứ hai, phạm vi chủ thể buộc tội có sự khác biệt giữa các mô hình tố tụng. Ở các quốc gia theo mô hình tố tụng thiên về thẩm vấn, phạm vi các chủ thể buộc tội rộng hơn so với các quốc gia theo mô hình tố tụng thiên về tranh tụng. Theo đó, tại các quốc gia theo mô hình tố tụng thiên về tranh tụng, chủ thể buộc tội chủ yếu là công tố viên hoặc công tố viên và ĐTV với sự chỉ đạo sát sao của công tố viên đối với hoạt động điều tra; tại các quốc gia theo mô hình tố tụng thẩm vấn, bên cạnh công tố viên, ĐTV, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định vai trò buộc tội ở mức độ nhất định của bị hại (người bị hại), nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ.

- Thứ ba, mỗi chủ thể buộc tội khi thực hiện CNBT trong tố tụng hình sự có thể có mức độ và cách thức tham gia khác nhau. Đặc điểm này sẽ lý giải cho việc có những chủ thể chỉ thực hiện CNBT trong một giai đoạn của tố tụng hình sự; có những chủ thể mà việc thực hiện CNBT có ý nghĩa hỗ trợ cho chủ thể buộc tội khác mà không có tính chất quyết định đối với việc buộc tội; có những chủ thể buộc tội mà việc thực hiện CNBT là trách nhiệm, nghĩa vụ trong khi đối với chủ thể buộc tội khác như bị hại việc thực hiện CNBT là quyền mà không phải là nghĩa vụ. Đây cũng là cơ sở để xác định mối quan hệ giữa các chủ thể buộc tội trong việc thực hiện CNBT.

- Thứ tư, mỗi chủ thể buộc tội có địa vị pháp lý cơ bản giống nhau, nhưng cũng có những điểm khác nhau tùy thuộc vào mô hình tố tụng, mức độ và cách thức tham gia thực hiện CNBT của mỗi chủ thể. chủ thể buộc tội nói chung phải có các nhóm quyền và nghĩa vụ liên quan tới các hoạt động cơ bản như: hoạt đông thu thập, yêu cầu thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ; hoạt động ban hành, đề xuất ban hành các văn bản thể hiện sự buộc tội; tham gia phiên tòa và thực hiện việc xét hỏi, trình bày, bảo vệ quan điểm buộc tội tại phiên tòa. Tuy nhiên, với mỗi chủ thể buộc tội cụ thể, phù hợp với mức độ, cách thức tham gia thực hiện CNBT của mỗi chủ thể, mối quan hệ giữa chủ thể đó với các chủ thể buộc tội còn lại mà các quyền và nghĩa vụ cụ thể của họ phải được cụ thể hóa một cách phù hợp.

- Thứ năm, trong mối quan hệ với các nhóm chủ thể tố tụng hình sự khác, chủ thể buộc tội có vai trò đối tụng với chủ thể thực hiện chức năng bào chữa, vai trò chế ước với Tòa án. Việc phân biệt rõ ràng, cụ thể các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự không loại trừ sự phối hợp giữa các chủ thể thực hiện mỗi chức năng bởi lẽ các chức năng trong tố tụng hình sự đều nằm trong một chỉnh thể thống nhất được quyết định bởi nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự, bởi sự nối tiếp, bổ sung cho nhau trong các giai đoạn, các bước của tố tụng hình sự. Mối quan hệ khách quan giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự đòi hỏi các chủ thể thực hiện CNBT và chức năng bào chữa phải có cơ hội ngang nhau trong việc bảo vệ lợi ích của mình trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và bên thứ ba thực hiện chức năng xét xử – Tòa án – phải độc lập, không thiên vị.

4. Người gỡ tội là gì?

Người gỡ tội có thể là người bào chữa hoặc bản thân người bị buộc tội. Trách nhiệm của người gỡ tội là sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

Người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

5. Thiết lập trình tự mới xem xét, giải quyết các yêu cầu của bên buộc tội và gỡ tội

Trong kiến nghị của mình, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã đề xuất thủ tục giải quyết các yêu cầu của các bên tham gia tranh tụng trước khi mở phiên tòa xét xử công khai, phù hợp với Đề án mô hình tố tụng hình sự mà Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương. Việc tìm kiếm cách thức cho người bị buộc tội và người bào chữa của họ yêu cầu trước khi mở phiên tòa công khai, Tòa án phải có xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của quá trình điều tra, thu thập chứng cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đề cao quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa, từ đó sàng lọc các chứng cứ buộc tội được thu thập không hợp pháp, việc tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội liên quan việc đánh giá chứng cứ có cơ hội được thực hiện ngay trước khi mồ phiên tòa và tiến hành tranh tụng.

Điều 253 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tiếp nhận và có thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó, việc tiếp nhận phải được lập biên bản. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp và trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án.

Theo quy định tại Điều 279 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết các yêu cầu, đề nghị sau: (a) Yêu cầu của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án; (b) Đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; (c) Đề nghị của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng về việc xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín; (d) Đề nghị của những người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật này và thông báo cho người đã yêu cầu, đề nghị biết; nếu không chấp nhận thì thông báo cho họ bằng văn bản có nêu rõ lý do.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)