Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.1975

Nhưng em lo vợ em như thế thì không thể ra Tòa để ly hôn được, vậy em xin luật sư tư vấn cho em là em có được ly hôn với vợ không, và nếu ly hôn thì sẽ tiến hành thủ tục như thế nào khi vợ em bị tâm thần.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Bộ luật dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

Trong thực tiễn có hai trường hợp xảy ra, trường hợp thứ nhất người vợ (chồng) bình thường yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần mà đã xác định đã mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Toà án. Trường hợp thứ hai là người bị bệnh tâm thần (Đã xác định là mất năng lực hành vi dân sự) bị đối xử ngược đãi hay vì một lý do nào đó mà chủ thể khác (Chủ thể thứ ba) đứng ra yêu cầu Toà án giải quyết cho người bị bệnh tâm thần được ly hôn với người vợ (chồng) còn lại.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn chỉ bị hạn chế đối với bạn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Điều luật qui định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn không cấm hay hạn chế trường hợp vợ (chồng) yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần. Khi có yêu cầu ly hôn trong trường hợp bên bị kiện là người bị tâm thần thì Tòa án phải thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như chỉ dẫn của khoản 1 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nhưng chưa có qui định cụ thể nào về tố tụng trong trường hợp người bị kiện trong vụ án ly hôn là người bị tâm bệnh tâm thần. Do đó, Thẩm phán phải vận dụng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xác định tư cách đương sự cho hợp lý.

Khi bị đơn là người bị bệnh tâm thần thì họ không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, khoản 4 Điều 69 BLTTDS quy định: “Người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện”.

Đại diện cho nhau giữa vợ, chồng khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự cần phải tiếp cận dưới hai phương diện.

Thứ nhất: Vợ (chồng) bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ được xác định là người giám hộ đương nhiên theo qui định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Khi thực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia tố tụng tại Toà án với một chủ thể thứ ba thì người giám hộ đại diện và thay mặt họ để thực hiện.

Thứ hai: Nếu ngay chính vợ (chồng) hay nói cách khác là ngay người giám hộ và người được giám hộ có xung đột về lợi ích, xung đột về quyền và nghĩa vụ thì người giám hộ sẽ không đủ điều kiện để giám hộ, Toà án sẽ chỉ định người khác giám hộ để đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự thực hiện bảo vệ các quyền và lợi ích của họ, chẳng hạn như vợ chồng ly hôn.

Nội dung này được qui định tại khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

"Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc chỉ định của Toà án phải căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự.

Theo Bộ luật dân sự năm 2015, Toà án chỉ được chỉ định người giám hộ trong trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ. Cũng theo Bộ luật dân sự năm 2015 tại khoản 2, khoản 3 Điều 136 quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân là người giám hộ đối với người được giám hộ, cũng có nghĩa là người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ là người đại diện cho họ. Toà án chỉ định người đại diện khi không xác định được người đại diện (là người giám hộ đối với người được giám hộ).

Áp dụng pháp luật tương tự về giám hộ, đại diện nói chung để vận dụng vào tình huống ly hôn. Một giải pháp là Toà án có thể áp dụng pháp luật tương tự được qui định tại khoản 3 Điều 53 về giám hộ đương nhiên của Bộ luật dân sự năm 2015 trong tình huống này. Khoản 3 Điều 53 quy định: Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Theo điều khoản này, ta lần lượt xem xét: Vợ chồng ly hôn thì người còn lại không đủ điều kiện giám hộ, để làm đại diện cho nhau khi ly hôn nên bị loại trừ. Chủ thể còn lại là con của vợ chồng xin ly hôn đại diện cho cha, mẹ (Bị mất năng lực hành vi dân sự) để ly hôn với người còn lại là cha hoặc mẹ mình, tuy không bị cấm nhưng Toà án sẽ không chọn lựa trong tình huống như vậy bởi vì trái với truyền thống tốt và ý thức hệ của gia đình người Việt Nam. Chủ thể còn lại là cha (mẹ) của người vợ (chồng) bị bệnh tâm thần là người sẽ được chỉ định để đại diện cho con của họ (nếu đủ điều kiện) để tham gia tố tụng tại Toà án khi chồng hoặc vợ có yêu cầu ly hôn. Xa hơn nữa, nếu cha mẹ của người bị mất năng lực hành vi dân sự không có đủ điều kiện giám hộ (hoặc đã chết hoặc không có cha mẹ) thì Toà án sẽ chỉ định người thân thích của người mất năng lực hành vi dân sự để đại diện cho họ tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn.

Từ những phân tích ở trên có thể khẳng định bạn hoàn toàn có quyền ly hôn theo quy định pháp luật và thủ tục tố tụng sẽ được tiến hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bố mẹ vợ của bạn có thể làm người giám hộ, đứng ra để tham gia tố tụng dân sự trong vụ việc ly hôn của bạn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.1975 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê