1. Quyền bình đẳng khi chia tài sản chung ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi nhận được một đề bài nghiên cứu như sau: phân tích nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng khi ly hôn. Vậy luật sư cho tôi hỏi, nguyên tắc này được thể hiên như thế nào ?
Trân trọng cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại khỏa 14 điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Như vậy ly hôn là sự chấm dứt hôn nhân khi cả hai vợ chồng còn sống do ý chí đơn phương của một bên hoặc do vợ chồng thuận tình ly hôn trước pháp luật.

Ly hôn và các vấn đề có liên quan theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình được giải quyết trên cơ sở sự bình đẳng của hai bên vợ và chồng, cụ thể:

1.1 Bình đẳng về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Sự bình đẳng về quyền yêu cầu ly hôn được thể hiện ngay từ khoản đầu tiên của điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Trường hợp thứ nhất: ly hôn đơn phương (theo yêu cầu của một bên)

Trong quá trình hôn nhân, khi tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã xảy ra nhiều lục đục, mâu thuẫn sâu sắc đến mức vợ chồng không thể chịu đựng được nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; hoặc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Thì vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án cho họ ly hôn, chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật.

Như vậy sự bình đẳng ở đây là vợ hay chồng đều có thể nộp đơn ly hôn mà không cần điều kiện bắt buộc là đối phương phải đồng ý khi chứng minh được mâu thuẫn của vợ chồng ở tình trạng trầm trọng và không thể tiếp tục chung sống với nhau.

Ngoài trường hợp trên, hiện nay trên thực tế thường xảy ra khá nhiều trường hợp vợ chồng ly thân hoặc mâu thuẫn và một bên bỏ đi mấy năm không có tin tức, người còn lại muốn ly hôn lại không ly hôn được vì không biết vợ/ chồng mình ở đâu. Để đảm bảo sự bình đẳng, Luật Hôn nhân gia đình cũng có quy định: trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn (khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Giải quyết theo thủ tục này thì người có yêu cầu ly hôn sẽ phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ/ chồng mất tích để có quyết định của Tòa án sau đó sẽ thực hiện thủ tục ly hôn.

Tuy nhiên nguyên tắc bình đẳng này cũng có một ngoại lệ, đó là trường hợp hạn chế quyền ly hôn đơn phương của người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Trường hợp thứ hai: thỏa thuận ly hôn (thuận tình ly hôn)

Đối với trường hợp này thì việc giải quyết dựa trên ý chí thống nhất ly hôn chung của vợ chồng, cho nên sẽ nhanh chóng hơn; sự bình đẳng chính là việc cả vợ và chồng đều cùng có quyền trao đổi và thỏa thuận để cùng ly hôn.

1.2 Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của người cha, mẹ không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha mẹ có tồn tại hay không, bởi lẽ quan hệ hôn nhân thì có thể chấm dứt nhưng quan hệ cha mẹ và con thì luôn luôn tồn tại. Vì thế sau khi ly hôn thì vợ chồng vẫn phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Sự bình đẳng được thể hiện ở việc quyết định ai sẽ là người nuôi con sau ly hôn: vợ chồng được thỏa thuận với nhau về việc ai là người trực tiếp nuôi con. Tòa án xem xét nếu việc thỏa thuận đó là hợp lý đảm bảo đứa con được phát triển toàn diện thì sẽ công nhận sự thỏa thuận đó. Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với nhau, hoặc có thỏa thuận nhưng quyền và lợi ích của con không được đảm bảo thì Tòa án sẽ quyết định người trực tiếp nuôi con dựa trên căn cứ về tư cách đạo đức, hoàn cảnh công tác, điều kiện kinh tế của mỗi bên vợ chồng, xem xét quan hệ tình cảm gắn bó giữa đứa con với cha, mẹ của mình. Trường hợp gia đình có con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con.

Bình đẳng ở nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con: người không trực tiếp nuôi con cũng sẽ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và chăm sóc con như người trực tiếp nuôi con. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi tôn trọng quyền được nuôi con của mình, cũng như không được cản trở việc người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người còn lại không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom, và có thể yêu cầu thay đổi khi cha mẹ trẻ có thỏa thuận hoặc khi người không trực tiếp nuôi con chứng minh được người trực tiếp nuôi con không còn đủ khả năng nuôi con nữa.

1.3 Bình đẳng về tài sản sau khi ly hôn

Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của hai vợ chồng, vì thế có rất nhiều trường hợp theo yêu cầu của các bên Tòa án không can thiệp việc chia tài sản của vợ chồng.

Tòa chỉ giải quyết khi các bên không thỏa thuận và có tranh chấp, trong trường hợp này tài sản chung sẽ được chia đôi tính đến các yếu tố sau:

a, Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b, Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c, Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d, Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Những yếu tố trên đều thể hiện được nguyên tắc bình đẳng khi chia tài sản của vợ chồng, chẳng hạn trong trường hợp vợ chồng tranh chấp tài sản chung là căn nhà; trong vụ án ly hôn mà hai người có công sức đóng góp như nhau nhưng nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn là do chồng ngoại tình và bạo lực với vợ; thì trong trường hợp này việc chia tài sản sẽ ưu tiên hơn cho người vợ.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, trường hợp khách hàng cần tư vấn các vấn đề khác về hôn nhân, ly hôn hãy liên hệ đến tổng đài 1900.6162 để gặp luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

2. Tài sản riêng và tài sản chung trong hôn nhân ?

Thưa luật sư, Tôi có căn nhà riêng đang đứng tên, sắp tới đây tôi chuẩn bị lập gia đình. Xin hỏi vậy sau này tôi tự bán căn nhà có rắc rối gì không? và có phải chia phần cho người chồng mà tôi chuẩn bị lấy không ạ?

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: O Phung

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Vợ chồng có quyền  bình đẳng khi ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung

Tài sản chung & Tài sản riêng - Ảnh minh họa

Trả lời:

Pháp luật có quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trước và sau khi kết hôn. Cụ thể :

Theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014, tài sản riêng của vợ chồng có được xác định gồm các tài sản:

+ Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn.

+ Tài sản được thừa kế riêng, cho tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân.

+ Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38,39 và 40 của Luật này.

+ Tài sản phục vụ thiết yếu và tài sản khác của vợ, chồng mà theo quy định pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Ngoài ra, những tài sản (hoa lợi, lợi tức phát sinh) được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng được quy định tại Khoản 1 Điều 33 và Khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Ngoài ra, theo nghị định 126/2014/NĐ-CP cũng quy định về tài sản riêng của vợ chồng, cụ thể :

Điều 11. Tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật

1. Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

2. Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.

3. Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.

Ngoài ra, điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014 có đề cập :

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

>> Do đó, căn nhà đứng tên chị đã được mua trước thời kì hôn nhân nó thuộc tài sản riêng của chị.

Như vậy, Căn nhà riêng đang đứng tên chị là tài sản riêng có trước khi kết hôn. Khi chị kết hôn, về nguyên tắc, chỉ những tài sản nào được tạo lập trong thời kì hôn nhân thì mới được xem là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, căn nhà này vẫn là của riêng chị (có từ trước khi kết hôn). Nói cách khác, chồng chị (sau này) không được chia tài sản này, ngoại trừ trường hợp chính chị đồng ý chia.

Vì vậy, chị có thể bán căn nhà này mà không gặp rắc rối gì cả. Tuy nhiên, để chắc chắn hơn, chị có thể làm bản thỏa thuận về việc xác định quyền sở hữu tài sản tạo lập trước khi kết hôn (bằng văn bản) với người mà mình sẽ cưới trước khi kết hôn để thỏa thuận rằng tài sản là căn nhà này là của riêng chị, để tránh trường hợp tranh chấp về sau nếu có.

Trên đây là ý kiến của chúng tôi về vấn đề bạn hỏi ở trên. Nếu gặp vấn đề gì còn thắc mắc, vui lòng liên hệ trực tiếp 1900.6162 để được tư vấn cụ thể. Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ luật sư: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

3. Có thể tự bán tài sản chung của vợ chồng không ?

Thưa Luật sư! Hiện tại hai vợ chồng tôi đã ly hôn (đã có quyết định ly hôn). Có một căn nhà là tài sản chung, vợ chồng tự thỏa thuận. Do chưa thống nhất được việc phân chia nên căn nhà vẫn đứng tên hai vợ chồng. Nhưng nay chồng tôi bắt tôi ký tên vào giấy bán nhà cho chủ nợ để trả khoản nợ riêng của chồng. Tôi không đồng ý ký thì anh ta tự viết giấy tay bán cho chủ nợ.
Tôi muốn hỏi việc chồng tôi bán nhà như vậy có hợp pháp không?
Tôi xin cảm ơn!

Có thể tự bán tài sản chung của vợ chồng không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin ban cung cấp thì căn nhà đứng tên hai vợ chồng bạn là tài sản chung của vợ chồng. Đối với việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;..

Ngoài ra, Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP cũng có hướng dẫn như sau:

Điều 13. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.

Từ các quy định trên, mặc dù vợ chồng chị đã ly hôn. Tuy nhiên, tài sản chưa được phân chia thỏa đáng, vẫn thuộc tài sản chung của vợ và chồng. Khi chồng chị muốn bán tài sản chung của vợ chồng, buộc phải có được sự đồng ý của chị. Hơn nữa, việc anh bán tài sản đó không phải vì nhu cầu thiết yếu của gia đình mà vì trả khoản nợ do anh vay tiêu sài cá nhân, chưa tính tới hình thức giao dịch bán nhà bằng giấy viết tay vô hiệu (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực), anh tự ý bán nhà mà không có sự đồng ý của chị, đối chiếu với khoản 2 Điều 35, chị hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán của anh vô hiệu. Nếu chủ nợ đang ở nhà chị, chị có quyền yêu cầu chủ nợ ra khỏi nhà chị hoặc nhờ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quyền ly hôn của người vợ theo quy định mới nhất ? Thủ tục ly hôn cần những giấy tờ nào ?

4. Căn nhà mẹ tặng cho là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn ?

Xin chào Luật sư! Dì của em lấy chồng rất lâu. Trong khi kết hôn, bà ngoại em có cho dì 1 căn nhà để 2 vợ chồng ở. Lúc đầu giấy tờ dì em đứng tên vì đó là quà cưới của bà ngoại cho dì. Nhưng sau 1 lần có tin thay sổ, chồng của dì em đã tự nguyện đi làm giấy tờ và sổ hồng ghi tên cả dì lẫn dượng. Dì em định đi làm lại sổ nhưng không có thời gian.
Giờ hai vợ chồng muốn ly hôn vì dì nhiều lần bị chồng ngược đãi tinh thần, bây giờ dượng bỏ nhà đi lần nữa, không phụ giúp dì nuôi con ăn học. Dì em muốn ly hôn nhưng tài sản duy nhất là căn nhà không biết phải làm sao. Không chia cho dượng sau khi ly hôn có được không ? Nó là tài sản riêng hay tài sản chung? Dì em hiện mở cửa hàng kinh doanh tại nhà để nuôi dạy 2 con đi học. Vì chồng dì không đưa tiền sinh hoạt nữa. Tiền mở tiệm do mẹ em cho dì mượn riêng. Liệu có phải chia sau khi ly hôn không?
Mong Luật sư hồi đáp sớm cho em! Chân thành cám ơn!
Người gửi: Q.T

Căn nhà mẹ tặng cho là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì vợ hoặc chồng để có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn.

Khi tiến hành thủ tục ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận về cách phân chia tài sản và con cái. Nếu không thỏa thuận được sẽ yêu cầu tòa án giải quyết. Khi phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tòa sẽ dựa trên việc các đương sự tự chứng minh về nguồn gốc tài sản của mình là của riêng hay của chung.

Khi xác định tài sản riêng của vợ và chồng gồm: tư trang, đồ dùng cá nhân, tài sản của vợ chồng được tặng cho, thừa kế trước thời kỳ hôn nhân nhưng không thỏa thuận là xác nhập vào tài sản chung thì được xác định là tài sản riêng. Tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng lại không xác nhập vào khối tài sản chung thì sẽ được xác định là tài sản riêng của vợ chồng.

Ở đây, mảnh đất của dì ban là do bà ngoại bạn tặng trước khi cưới do đó nó là tài sản riêng của dì bạn. Tuy nhiên trong quá trình sinh sống với dượng của bạn, dì bạn đã đồng ý xác nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng thông qua hình thức là cho dượng bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó mảnh đất này sẽ được xác nhận là tài sản chung của vợ chồng và khi tiến hành chia tài sản về nguyên tắc sẽ thực hiện theo nguyên tắc tại điều 59 luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Đối với khoản tiền kinh doanh mà Dì của bạn tự đứng ra vay mượn sẽ được xác định là phần nghĩa vụ riêng của Dì bạn. Các lợi nhuận phát sinh từ khoản tiền kinh doanh mà Dì bạn thực hiện sẽ được xác định là tài sản riêng của Dì bạn. Tuy nhiên khoản nợ này cũng sẽ do một mình Dì bạn trả và nó sẽ không được xác định là khoản nợ chung của hai vợ chồng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

5. Quyền sử dụng đất được thừa kế có bị nhập vào tài sản chung ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Mẹ tôi mất sớm tôi ở với Bác tôi từ lúc 4 tuổi. Bác tôi không lập gia đình. Nay bác tôi muốn di chúc thừa kế tài sản nhà ở cho tôi.
Tôi là cháu ruột vậy tài sản tôi được hưởng thừa kế có phải mất thuế khi nhận thừa kế để sang tên giấy tờ nhà ở đó với tên tôi không? Tài sản bác tôi để lại cho tôi có bị nhập với tài sản chung của vợ chồng tôi không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: T.L

Trả lời:

-Trước tiên xác định khoản thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế, bạn là cháu ruột của người để lại di sản. Bạn có thể tham khảo tại Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân:

"Điều 3: Các khoản thu nhập được miễn thuế:

1. Căn cứ quy định tại Điều 3 của Luật thuế thu nhập cá nhân, điều 4 của nghị định số 65/2013/NĐ-CP các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm:

d) Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau."

->Như vậy trong trường hợp này bác của bạn để lại di sản thừa kế cho bạn là bất động sản không thuộc trường hợp thu nhập được miễn thuế từ nhận thừa kế quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC, vì vậy bạn phải nộp thuế thu nhập cá nhân từ nhận thừa kế với thuế suất 10% (Khoản 7 Điều 2 Luật số 71/2014/QH13).

-Việc nhập tài sản này vào khối tài sản chung hay không thì luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

-> Như vậy nếu như bạn xác định được bạn được thừa kế riêng khối tài sản đó thì việc nhập khối tài sản ấy vào tài sản chung vợ chồng hay không là do vợ chồng thỏa thuận.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?