1. Trách nhiệm của người mượn xe mang đi cầm cố ?

Thưa luật sư, do tin tưởng bạn bề tôi có cho bạn mình mượn xe nhưng sau đó biết được họ đã đem xe của tôi đi cầm cố. Vậy, hành vi này bị xử lý như thế nào theo pháp luật ạ ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 494 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng mượn tài sản:

"Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được."

Căn cứ Điều 140 Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Kính chào công ty luật sư Minh Khuê, em có một số thắc mắc muốn nhờ công ty giải quyết cho em ạ, vừa rồi cách đây mấy ngày bạn em có nhờ em đi cầm chiếc xe máy của em vì bạn em đang cần tiền gấp nên thương tình em đã cầm giúp bạn với số tiền 7 triệu. Giờ bạn em có ý định không trả tiền để chuộc xe giờ xin công ty cho em biết phải làm sao ạ. Em xin cám ơn!

>> Trong trường hợp này giữa bạn và bạn của bạn đã có hợp đồng mượn tài sản - tiền với nhau do đó nếu bạn của bạn có ý định không trả tiền cho bạn để bạn sử dụng với mục đích chuộc xe thì bạn có thể xem xét yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, buộc bạn của bạn trả lại tài sản - tiền cho bạn. Ngoài ra với số tiền là 7 triệu đồng nếu như bạn của bạn sau khi vay có dấu hiệu của sự lừa đảo nhằm chiếm đoạt luôn phần tài sản của bạn thì người bạn của bạn còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định pháp luật trên.

Mình có đứng ra mua hộ bạn mình một điện thoại di động iphone 6s 16gb plus với giá 21.790.000 VND và một xe máy giá 22 triệu nhưng hiện giờ bạn mình đã ngắt liên lạc và mình cũng đã biết điện thoại bạn ấy đã bán, xe bạn ấy cũng bán và không hề thông qua mình, không đóng tiền hàng tháng nên mình không biết làm thế nào, mong luật sư tư vấn giúp mình ạ.

>> Trong trường hợp này, bạn chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho chúng tôi do đó chúng tôi chưa thể trao đổi cụ thể với bạn được. Cụ thể là việc bạn đứng tên giúp mua hộ bạn điện thoại và xe máy kia có hợp đồng hay thỏa thuận gì không ? Có giấy tờ chứng minh gì không ?

Thứ nhất, có hợp đồng cụ thể bằng văn bản việc bạn đứng tên mua hộ bên kia thì căn cứ vào thỏa thuận của hai bạn trong hợp đồng mà thực hiện theo đúng hợp đồng.

Thứ hai, không có hợp đồng cụ thể bằng văn bản nhưng cả hai bên có thỏa thuận bằng miệng. Do đó, bạn cũng có quyền yêu cầu người bạn kia trả lại tiền cho bạn, nhưng hiện vẫn không thể liên lạc được người kia. Bạn cần đến cơ quan công an nơi bạn đang cư trú để yêu cầu cơ quan công an điều tra, giải quyết vụ việc này cho bạn.

Xin chào Luật sư! Trường hợp của em như sau: Em có chiếc xe máy air blade do bố em mua cho (giấy tờ xe đứng tên bố em), và bạn em có hỏi mượn xe của em để đi cầm, em đã đồng ý đưa xe cho bạn đi cầm nhưng không đưa giấy tờ. Từ thời điểm bạn em mượn xe đi cầm đến nay đã được 3 tháng rồi nhưng em không thấy trả và cũng không liên hệ được, gia đình em muốn kiện nhưng do để thời gian dài 3 tháng, gia đình em còn có thể kiện để đòi lại chiếc xe được không?

>> Căn cứ Điều 499 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền của bên cho mượn tài sản:

"1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.

2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra."

Theo đó, thời hạn yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản đã cho mượn không quy định cụ thể là bao lâu, do đó, hiện nay bạn vẫn có thể yêu cầu khởi kiện vụ án để đòi lại chiếc xe của mình. Tuy nhiên, cũng phải căn cứ vào thỏa thuận giữa bạn và bên mượn tài sản về thời hạn cho mượn tài sản là bao lâu, nếu bạn chứng minh được mình có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý. Do đó, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện để đòi lại chiếc xe khi bạn cần.

Chào luật sư! Tôi có một chiếc xe máy, giấy tờ mang tên của tôi, nhưng chồng tôi vì ham chơi nên đã mang chiếc xe cùng giấy đăng ký xe đi cầm và viết giấy bán xe. Nếu bây giờ tôi muốn làm đơn kiện thì có được giải quyết để lấy lại chiếc xe đó không? và chồng tôi sẽ bị xử phạt thế nào? Rất mong luật sư giải thích rõ giúp tôi.

Theo như thông tin bạn cung cấp, hiện nay trên giấy đăng ký xe là đứng tên bạn, do đó, bạn chính là chủ sở hữu chiếc xe này. Khi bạn chứng minh được tài sản này là tài sản riêng của bạn, không có sự đồng ý của bạn mà chồng bạn tự ý đem chiếc xe đi cầm cố thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu bên cầm cố trả lại chiếc xe cho bạn hoặc khởi kiện ra Tòa án yêu cầu họ giải quyết vấn đề này cho bạn. Tuy nhiên, do bạn và chồng bạn có quan hệ vợ chồng nên việc chứng minh là tương đối khó khăn và phức tạp.

Chồng bạn đã tự ý lấy xe mà không có sự đồng ý của bạn, bạn không biết, bạn phải chứng minh được chồng có lén lút lấy xe của mình để đi cầm cố (việc này khó chứng minh vì hai bạn có quan hệ vợ chồng nên chồng bạn có thể tự ý lấy xe của bạn đi). Do đó, nếu cơ quan có thẩm quyền hoặc bạn có những bằng chứng chứng minh chồng bạn lén lút lấy tài sản đi cầm cố thì chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Em cho người dưới 18 tuổi mượn xe máy nhưng mà bên mượn xe làm hỏng xe. Gia đình bên người mượn hứa sẽ sửa xe trong vòng 3 ngày nhưng quá 3 ngày vẫn không hoàn trả chiếc xe của em thì luật sư cho em hỏi em cho người mượn xe dưới 18 tuổi là đúng hay sai và muốn lấy lại xe thì làm như thế nào ?

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn cho người dưới 18 tuổi mượn xe như vậy là không đúng. Bởi lẽ, người dưới 18 tuổi, chưa đủ điều kiện tham gia giao thông, điều khiển phương tiện giao thông. Do đó, nếu việc bạn giao cho người dưới 18 tuổi chiếc xe mà người này gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 205 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

"Điều 205. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trường hợp người dưới 18 tuổi không gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo điểm đ khoản 4 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Bạn có quyền yêu cầu bên người mượn xe trả lại xe cho bạn vì xe là đứng tên trên giấy đăng ký xe. Nếu bên kia cố tình không trả lại xe cho bạn thì bạn có thể làm đơn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Xem thêm:  Sổ đỏ không chính chủ có mang đi cầm cố được không ? Cầm cố thẻ sinh viên, xe máy có hợp pháp ?

2. Kiện người mượn xe máy mang đi cầm cố ?

Luật sư cho em hỏi em có cho bạn mượn một chiếc xe máy và bạn đã mang đi cắm cùng với đăng ký xe. Luật sư cho em hỏi em không có giấy tờ em có kiện được người bạn của em không ạ ? Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Trong trường hợp này của bạn bạn có hai cách để giải quyết nếu bạn giải quyết theo vụ án dân sự hoặc vụ án hình sự:

Giải quyết theo hướng dân sự:

Trong trường hợp bạn cho bạn mình mượn và có giấy tờ cho mượn hay có người làm chứng việc bạn cho bạn mình mượn cả xe máy và giấy tờ thì bạn có thể nộp hồ sơ khởi kiện đòi lại tài sản đã cho mượn. Việc khởi kiện cần đảm bảo rằng bạn đã có chứng cứ chứng minh giao dịch mượn xe là có thực trên thực tế.

Giải quyết theo hướng hình sự:

Việc người bạn này thực hiện cầm cố tài sản sau khi mượn được xe thể hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hành vi này là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định cụ thể tại Điều 140 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, Bạn có thể tố cáo hành vi nayg tới bất kỳ cơ quan, tổ chức nào bạn cho rằng sẽ giải quyết được cho bạn. Bạn có thể nộp đơn tố cáo kèm theo những chứng cứ chứng minh cho nội dung tố cáo tới cơ quan công an nơi bạn cư trú.

Bạn không có giấy tờ xe nhưng chỉ cần bạn có bằng chứng minh được bạn của bạn đã mượn chiếc xe của mình rồi sau đó mang xe đi cắm.Theo quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng vay mượn tài sản cũng không nhất thiết phải được lập bằng văn bản. Vì vậy chỉ cần bạn có bằng chứng chứng minh về việc mình đã cho vay mượn tài sản đó là được như là có người làm chứng...

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp hoặc bạn có thể liên hệ với gmail : Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố

3. Mượn xe máy nhưng không trả thì bồi thường thế nào ?

Chào luật sư!. Vào hồi 18h ngày 18.5.2016 anh Q có đến nhà tôi mượn chiếc xe máy trị giá khoảng 15 triệu tôi có nói cho mượn đến 21h cùng ngày phải trả để tôi còn sử dụng. Nhưng từ đó đến nay tôi không liên lạc được. tôi đã làm đơn ra công an phường và công an thành phố yêu cầu được giải quyết, trong thời gian giải quyết người nhà anh Q có nói sẽ chịu trách nhiệm trả xe còn không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong 2 tháng không có xe tôi phải ở nhà.
Vì trong cốp xe là toàn bộ đồ nghề tui dùng để đi làm. Hiện tại người nhà anh Q đã mang xe ra công an thành phố và giao nôp, tôi đã làm đơn để xin lại xe. yêu cầu bồi thường không được gia đình nhà kia chấp thuận. tôi muốn khởi kiện yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luât; thì công an bảo thứ nhất tôi cho mượn xe ko có biên bản bàn giao . thứ 2 tôi làm công việc tự do không có căn cứ mức lương ?
Tôi muốn hỏi luật sư trong trường hợp này xử lí như nào ?

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

Điều 512. Hợp đồng mượn tài sản

Hợp đồng mượn tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.

Điều 517. Quyền của bên cho mượn tài sản

Bên cho mượn tài sản có các quyền sau đây:

1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thoả thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý;

2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thoả thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn;

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do người mượn gây ra.

Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.

Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Căn cứ theo quy định trên, bạn hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại về thu nhập thực tế bị mất do hành vi xâm phạm gây ra, tuy nhiên bạn cần phải chứng minh được mức thiệt hại thực tế mà bạn bị mất về hành vi xâm phạm đó.

Về hành vi của anh Q đã mượn tài sản của bạn sau đó đã mất tích không liên lạc được đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Do đó, trường hợp này khi nhà bạn đã báo Công an và đã được bồi thường thiệt hại về tài sản đã bị lấy mất, tuy nhiên lại không được bồi thường thiệt hại về thu nhập thực tế do hành vi xâm phạm gây ra, thì gia đình bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa yêu cầu giải quyết. Về mẫu đơn khởi kiện ạn có thể tham khảo dưới đây: Mẫu đơn khởi kiện

Như đã phân tích ở trên, việc có lấy lại được khoản thu nhập bị mất hay không phụ thuộc vào việc bạn phải chứng minh được khoản thu nhập bị mất đó trên giấy tờ hoặc có người làm chứng là hợp pháp khi đó mới được Tòa xem xét để bồi thường.

>> Xem thêm:  Những điểm khác biệt cần lưu ý về cầm cố tài sản và cầm giữ tài sản ?

4. Mượn xe bạn cầm cố nhưng không có khả năng chuộc lại xe ?

Chào luật sư, Em có thuê xe của 1 người bạn 1 tháng, trong thời gian đó em có gặp chuyện nên đã cầm xe bạn ấy. Sau đó em có thông báo với bạn ấy và xin bạn ấy cho em thời gian để lấy lại. Nhưng qua 1 tháng em vẫn chưa có khả năng lấy xe ra.
Bạn ấy có đến nhà đòi nhưng em nói em hiện tại thực sự không thể lấy ra ngay được, bạn ấy bắt em đưa chứng minh thư của em và lấy giấy tờ chiếc xe của bạn gái em sau đó bạn ấy và bạn bạn ấy đánh em và nói vài hôm phải lấy được xe. Nhưng bây giờ thực sự em không thể kiếm được tiền liền để lấy xe. Em không biết phải làm sao, bạn ấy đến nhà trọ em làm ầm ĩ chỉ sợ chủ nhà biết đuổi em luôn chứ em cũng không muốn trốn gì cả nhưng em không biết làm thế nào. Nếu bạn ấy đưa ra công an thì em phải chịu tội gì thưa luật sư. Có cách nào giải quyết không vì hiện tại em chưa kiếm được tiền. Số tiền là 7 triệu đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, việc thuê xe nhưng lại mang đi cầm cố và chưa có khả năng chuộc lại tài sản đó.

Theo Điều 480 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định về hợp đồng thuê tài sản:

"Điều 480. Hợp đồng thuê tài sản

Hợp đồng thuê tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê".

Bạn sử dụng chiếc xe mang đi cầm cố nên sẽ áp dụng theo Điều 488 Bộ luật dân sự 2005 về: Nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng công dụng, mục đích.

"Điều 488. Nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng công dụng, mục đích

1. Bên thuê phải sử dụng tài sản thuê theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thoả thuận.

2. Trong trường hợp bên thuê sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công dụng thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại".

Bạn sẽ bị đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình.

Tại Điều 490 Bộ luật dân sự 2005 quy định về trả lại tài sản thuê như sau:

"Điều 490. Trả lại tài sản thuê

1. Bên thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thoả thuận; nếu giá trị của tài sản thuê bị giảm sút so với tình trạng khi nhận thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ hao mòn tự nhiên.

2. Trong trường hợp tài sản thuê là động sản thì địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Trong trường hợp tài sản thuê là gia súc, bên thuê phải trả lại gia súc đã thuê và cả gia súc được sinh ra trong thời gian thuê, nếu không có thoả thuận khác. Bên cho thuê phải thanh toán chi phí chăm sóc gia súc được sinh ra cho bên thuê.

4. Khi bên thuê chậm trả tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả lại tài sản thuê và trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phải bồi thường thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu có thoả thuận.

5. Bên thuê phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản thuê trong thời gian chậm trả".

Bạn phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thoả thuận. Khi bạn chậm trả tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả lại tài sản thuê và trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phải bồi thường thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu có thoả thuận. Bạn phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản thuê trong thời gian chậm trả.

Mặt khác, chiếc xe được mang đi cầm cố nhưng hiện nay bạn vẫn chưa có khả năng chuộc lại chiếc xe đó.

Theo Điều 326 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 326. Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự".

Theo Điều 336 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 336. Xử lý tài sản cầm cố

Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố".

Đến hạn nhưng bạn vẫn chưa đến chuộc lại xe thì chiếc xe đó được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.

Sau khi cầm cố bạn có thông báo với người cho thuê và xin thêmthời gian để lấy lại xe nhưng qua 1 tháng em vẫn chưa có khả năng lấy xe ra. Qua đó, trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Khoản 1 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005:

"1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại".

Theo Điều 307 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại".

Nếu không muốn bị gánh chịu những hậu quả pháp lý nặng hơn thì trong thời gian sớm nhất bạn phải trả lại chiếc xe cho bên thuê và thực hiện việc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, hành vi của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bạn thuê xe của một người bạn nhưng sau đó lại lấy chiếc xe đó mang đi cầm cố vì mục đích cá nhân. Bạn đã thông báo về sự việc trên và được người thuê xe cho một khoảng thời gian để lấy lại chiếc xe đó nhưng qua 1 tháng vẫn chưa trả lại. Hiện nay cũng không có khả năng chuộc lại chiếc xe đó. Giá trị tài sản là 7 triệu đồng.

Từ những dấu hiệu trên bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ Luật Hình sự 1999:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này".

Thứ ba, hành vi của người cho thuê đối với bạn có thể gánh chịu trách nhiệm hình sự.

Người cho thuê đến nhà đòi chiếc xe và bắt em đưa chứng minh thư của bạn và lấy giấy tờ chiếc xe của bạn gái bạn co thể bị xử phạt hành chính vì các loại giấy tờ này không phải là tài sản.

Người cho thuê xe đã có hành vi đánh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích và gây tổn hại sức khỏe người khác theo Điều 104 Bộ luật hình sư năm 1999:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cầm cố sổ đỏ để vay tiền có được không ? Sổ đỏ có thể là tài sản cầm cố không ?

5. Phải làm sao khi bạn mượn xe ô tô rồi mang đi cắm luôn ?

Thưa luật sư, tôi có chiếc xe ô tô trị giá 200tr. Làm dịch vụ chạy kiểu taxi nhưng là xe gia đình. Có người bạn gọi tôi chở đi có việc rồi nói tôi ngồi quán nước đợi. Ban mượn xe đi ra đây tý quay lại. Rồi mang xe của tôi đi cắm. Trên xe tôi để giấy tờ gốc. Nhưng hóa đơn giấy tờ mua bán giữa chủ xe bán cho tôi tôi vẫn giữ. Xe tôi chưa làm sang tên.
Xin hỏi luật sư giờ bạn tôi gọi không nghe máy. Gia đình bạn tôi lúc đầu nói sẽ giải quyết trả xe cho tôi. Giờ bạn tôi biệt tăm. Gia đình bạn nói quay lại nói kiểu buông xuôi. Giờ tôi phải làm sao để lấy lái xe. Xin ý kiến các luật sư ?
Chân thành cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Theo thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì bạn có cho bạn của mình mượn chiếc xe ô tô trị giá 200 triệu để đi ra ngoài có việc. Đối chiếu theo quy định pháp luật, cụ thể là Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quan hệ giữa bạn với người bạn của mình là quan hệ mượn tài sản:

"Điều 494. Hợp đồng mượn tài sản

Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được."

Cũng theo quy định của Bộ luật này tại Điều 496 người mượn phải có trách nhiệm trả lại tài sản đúng thời hạn và đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường nếu làm mất, hỏng tài sản, cụ thể:

"Điều 496. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản

1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.

2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.

3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.

4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.

5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả."

Do đó, đối với trường hợp của mình trước hết bạn nên ngồi lại trao đổi với người bạn của mình. Yêu cầu người bbajn này nhanh chóng chuộc xe và trả lại cho mình. Nếu như người bạn của bạn không thực hiện việc trả lại xe bạn nên yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cầm đồ tài sản không chính chủ và trách nhiệm trả tiền thuộc về ai ? Kinh doanh dịch vụ cầm đồ