Hỏi:

1. Hành vi của B có phải gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng hay ko? B có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ko ? Về tội gì ? Quy định cụ thể ntn ?

2. Ai là người phải bồi thường thiệt hại cho A ?

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Bộ luật Dân sự năm 2015

- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

2. Luật sư tư vấn:

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận, văn bản thỏa thuận, hợp đồng thỏa thuận mới 2020

2.1. Hành vi của B có phải gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng hay không? B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ? Về tội gì? Quy định cụ thể như thế nào ?

Theo Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

"1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

Căn cứ vào quy định trên thì có thể thấy, hành vi của B là hành vi gây thiệt hại cho sức khỏe của A, không phải là hành vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng do không thỏa mãn các dấu hiệu của phòng vệ chính đáng. B có hành vi dùng dùi cui đánh liên tiếp vào lưng A là vì không kiềm chế được trước những lời lẽ chửi mắng, xúc phạm chứ không phải vì bảo vệ quyền, lợi ích của mình hay của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà cụ thể ở đây là công ty X.

Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Như vậy muốn biết được hành vi của B có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 trên hay không thì phải xác định được tỉ lệ thương tật của A là bao nhiêu %, từ đó mới có thể xác định khung hình phạt đối với B.

2.2. Ai là người phải bồi thường thiệt hại cho A ?

Trong tình huống trên, B có gây thiệt hại cho A và cụ thể là thiệt hại về sức khỏe. B là người có hành vi trái pháp luật, có lỗi, là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho A. 

Tuy nhiên theo Điều 597 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra như sau:

"Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật."

Do B là nhân viên bảo vệ của công ty X, đang thực hiện công việc của công ty X, do đó từ quy định trên có thể thấy công ty X sẽ là người phải bồi thường trước, sau đó sẽ là nghĩa vụ hoàn trả của B đối với công ty X (B có lỗi đến đâu thì bồi thường đến đó).

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn phạt vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật hiện hành

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về bồi thường thiệt hại trong dân sự ?