Thời gian gần đây, bà con xung quanh phát hiện trong căn nhà em vợ tôi có chứa chấp một thanh niên lạ, mà căn nhà luôn khóa cửa bên ngoài cứ như là không ai ở. Em vợ tôi thời gian gần đây thì cũng không thuờng lui tới căn nhà đó nửa. Thấy biểu hiện bất thường của căn nhà cộng với tình nghi có người xấu trong căn nhà đó nên bà con đã báo công an địa phương. Công an địa phương có đến vào lúc 20h và có điện thoại cho em vợ tôi lên mở cửa để kiểm tra nhưng em vợ tôi không lên. Sau đó công an mới lấy kiềm cộng lực và nói gia đình tôi chứng kiến để công an phá cửa vào kiểm tra vì cho rằng có quan hệ họ hàng nên chứng kiến được. Nhưng công an địa phương không tự phá cửa mà kêu tôi phá. Tôi bối rối vì nghĩ làm việc ấy là phạm luật nhưng do yếu tố tác động từ mẹ vợ cộng thêm nổi sợ hãi về người thanh niên lạ trong ngôi nhà có thể gây ảnh hưởng đến gia đình và trật tự an ninh lối sớm nên tôi cắn lòng lấy kiềm bẻ khóa. Nhưng một mình tôi thì ko thể bẻ khóa nổi (không phải không làm nổi nhưng tôi muốn có một người của chính quỳên cùng tôi mở vì tui rất lo sợ mình vi phạm) thì công an có kêu một anh tuần tra hỗ trợ tôi( tôi không nhớ mặt anh tuần tra đó). Sau khi phá khóa cửa ngõ thì mấy anh công an lại bảo tôi phá khóa cửa nhà để vào kiểm tra. Lúc này tôi không còn can đảm nửa nên từ chối. Mấy anh công an cũng không phá cửa mà chỉ kiem tra lòng vòng rồi về. Luật sư cho tôi hỏi tôi có bị truy cứu trách nhiệm gì hay không ? Tôi là cán bộ nhà nước nên mọi hình thức xử lý đều ảnh hưởng rất lớn. Rất mong được sự tư vấn của Luật sư.

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sựcủa công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009

Nội dung tư vấn

Theo Bộ luật tố tụng hình sự

Điều 141. Thẩm quyền ra lệnh khám xét

1. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp. Lệnh khám xét của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Trong trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 80 và khoản 2 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự:

Điều 80. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

1. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

b) Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Điều 81. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp

2. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

Như vậy, chỉ có những người được quy định tại khoản 1 Điều 80 và khoản 2 Điều 81 mới có thẩm quyền ra lệnh khám xét nhà. Trong trường hợp này, nếu công an không có lệnh của người có thẩm quyền đưa ra thì không được tự ý khám xét nhà của công dân. Điều 124 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 124.  Tội xâm phạm chỗ ở của công dân 

1. Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)  Gây hậu quả nghiêm trọng.

3.  Người phạm tội còn có thể  bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên, hành vi của bạn và cơ quan công an mới chỉ dừng ở việc thực hiện phá khóa cửa nhưng không thành mà chưa hề thực hiện việc khám xét, xâm phạm đến chỗ ở của người khác nên chưa thể xem xét xử lý bạn trong trường hợp này. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư dân sự.