1. Xây nhà lấn, chiếm đất công có bị phạt không?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi ở tỉnh Quảng Bình, vừa qua tôi xây dựng nhà ở kiên cố 2 tầng thuộc địa bàn thành phố, trong quá trình làm móng thợ đã không xác định được vị trí đất cho nên lấn sang đất công chiều ngang 0,5 m sâu 14m.

Gia đình tôi bị đội thị trường đô thị lập biên bản buộc đình chỉ và làm các thủ tục liên quan. Tôi làm đơn lên UBND xã xin được xét giao đất phần lấn, chiếm đó ( 0,5*14m). Hồ sơ đã được hoàn thành gửi lên UBND thành phố. Sau một thời gian được cán bộ Phòng tài nguyên và môi trường, cơ quan thuế, văn phòng đất tới thẩm định theo hồ sơ đã được gửi, các phòng ban đã thống nhất ký đầy đủ các văn bản nhất trí việc giao đất này. Sau khi trình ra UBND thành phố thì chủ tịch UBND thành phố không chấp nhận và lý giải là phần đất này để quy hoạch làm con đường.

Thực chất lô đất này là nằm trong phần hàng rào bằng, hàng cây lâu năm. Tôi nhận được quyết định của Phó chủ tịch UBND thành phố đình chỉ công trình, tháo dỡ phần xây lấn chiếm đất công đó. Gia đình rất hoang mang lo lắng, toàn bộ tiền đã dồn ra để làm nhà hết cả, nay đã xây dựng xong phần thô 2 tầng. Xin được công ty luật tư vấn cho gia đình biết phải làm sao? Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Mừng

Xây nhà lấn, chiếm đất công có bị phạt không?

>> Luật sư trả lời: Giải quyết trường hợp người dân lấn, chiếm đất như thế nào?

xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi, câu hỏi của bạn được trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, đối với hành vi lấn, chiếm đất đai sẽ bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy từng mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi. Công ty Luật Minh Khuê tư vấn một số vấn đề cụ thể:

Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CP có quy định để giải thích về hành vi lấn đất và chiếm đất như sau:

1. Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

2. Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép;b) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;c) Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp);d) Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.

3. Hủy hoại đất là hành vi làm biến dạng địa hình hoặc làm suy giảm chất lượng đất hoặc gây ô nhiễm đất mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định, trong đó:

a) Làm biến dạng địa hình trong các trường hợp: thay đổi độ dốc bề mặt đất; hạ thấp bề mặt đất do lấy đất mặt dùng vào việc khác hoặc làm cho bề mặt đất thấp hơn so với thửa đất liền kề; san lấp đất có mặt nước chuyên dùng, kênh, mương tưới, tiêu nước hoặc san lấp nâng cao bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp so với các thửa đất liền kề; trừ trường hợp cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận;

b) Làm suy giảm chất lượng đất trong các trường hợp: làm mất hoặc giảm độ dầy tầng đất đang canh tác; làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng; gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp;

c) Gây ô nhiễm đất là trường hợp đưa vào trong đất các chất độc hại hoặc vi sinh vật, ký sinh trùng có hại cho cây trồng, vật nuôi, con người;

d) Làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này mà dẫn đến không sử dụng đất được theo mục đích được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất;đ) Làm giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này mà phải đầu tư cải tạo đất mới có thể sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất.

4. Giao dịch về quyền sử dụng đất là trường hợp các bên liên quan thực hiện việc chuyển đổi hoặc chuyển nhượng hoặc tặng cho hoặc cho thuê, cho thuê lại hoặc thừa kế hoặc thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Như vậy, nếu cá nhân, tổ chức nào mà thực hiện một trong các hành vi trên thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này căn cứ theo Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP:

1. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

2. Trường hợp lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

3. Trường hợp lấn, chiếm đất nông nghiệp là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn, thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,02 héc ta;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,02 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;

c) Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

d) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

e) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

4. Trường hợp lấn, chiếm đất phi nông nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

5. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này) tại khu vực đô thị thì mức xử phạt bằng 02 lần mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và mức phạt tối đa không quá 500.000.000 đồng đối với cá nhân, không quá 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

6. Trường hợp lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình và đất công trình có hành lang bảo vệ, đất trụ sở làm việc và cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở; trong lĩnh vực về giao thông đường bộ và đường sắt; trong lĩnh vực về văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; trong lĩnh vực về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão; trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các lĩnh vực chuyên ngành khác.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 của Điều này và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; trừ trường hợp trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này;

b) Buộc đăng ký đất đai theo quy định đối với trường hợp có đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;

c) Buộc thực hiện tiếp thủ tục giao đất, thuê đất theo quy định đối với trường hợp sử dụng đất khi chưa thực hiện xong thủ tục giao đất, thuê đất;

d) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này; số lợi bất hợp pháp được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này

Như vậy Trường hợp này của anh là thuộc vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 102/2014/NĐ-CP :Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

Làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a,b,c khoản này mà dẫn đến không sử dụng đất được theo mục đích được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất;

Hình phạt đối với trường hợp này của anh là : Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta; buộc trả lại đất

2. Làm thế nào khi bị lấn, chiếm đất liền kề?

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thi công xây dựng nhà ở cập nhật mới nhất năm 2021

Kính chào Luật sư! Nhà con và nhà kế bên có tranh chấp về một phần đất sát vách. Theo Sổ Đỏ của gia đình con thì xác nhận phần đất đó là của gia đình con. Nhưng nhà kế bên đó cứ xây dựng nhà trên phần đất đó. Gia đình con có gửi đơn đến UBND xã yêu cầu giải quyết nhưng mấy ông ở đó cứ kéo dài thời gian mãi không chịu giải quyết hòa giải để gia đình con có thể gửi đơn đến tòa án huyện. Thời gian kéo dài như vậy thì nhà kế bên đó cứ xây nhà tiếp tục trên phần đất thuộc chủ quyền của gia đình con mà gia đình con ngăn cản thì bên đó lại chửi, hùa nhau đòi ra UBND xã giải quyết, nhưng đến UBND thì người ở đó không giải quyết, cuối cùng không ai chịu ngăn cản bây giờ nhà đó xây được luôn cái nền nhà rồi.
Cho con hỏi là bước tiếp theo con cần phải làm gì? Chuẩn bị những gì? Sau này nếu giải quyết tranh chấp mà gia đình con thắng kiện thì cái phần nhà xây dựng trái phép trên phần đất của con gia đình con có phải bồi thường cho nhà kế bên không? Con mong nhận được thư trả lời sớm ạ, vì bây giờ nhà kế bên đó có một ông làm ở toà án chống lưng cho họ nên họ rất ngang nhiên làm. Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp trường hợp lấn đất, gọi; 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Trước hết, việc tranh chấp đất đai giữa gia đình bạn và hàng xóm sẽ được thực hiện hoà giải do UBND xã trong thời hạn 45 ngày. Nếu trong trường hợp không hòa giải được tại UBND xã thì gia đình bạn có quyền nộp đơn lên UBND huyện hoặc khởi kiện tại Toà án.

Như vậy, nếu quá thời hạn nêu trên mà UBND xã không tổ chức hoà giải cho bạn thì bạn hoàn toàn có quyền khiếu nại lần đầu lên UBND xã về hành vi hành chính này của UBND xã, nếu khiếu lại lần đầu mà UBND xã vẫn không giải quyết thì bạn khiếu nại lần 2 lên UBND huyện để được giải quyết.

Sau khi đã tiến hành hòa giải mà vẫn không thỏa đáng, bạn có thể làm đơn khởi kiện tại Tòa án.

>> Tham khảo ngay: Quy định về mức xử phạt hành vi lấn, chiếm đất mới cập nhật

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

3. Giải quyết như thế nào hàng xóm lấn chiếm đất?

Thưa Luật sư. Tôi có mua 1 mảnh đất thổ cư của anh T, trong lúc mua bán, tôi có công chứng hồ sơ mua bán. Sau đó, lên Phòng Tài nguyên và môi trường làm biến động và đính chính tên. Tôi làm giấy phép xây dựng và tập kết vật liệu xây dựng rồi, đang chuẩn bị xây nhà thì phát hiện nhà ông H đã lấn chiếm đất tôi. Nhà ông H hình thành trước lúc tôi mua đất của ông T. Tôi có làm đơn yêu cầu xã hòa giải nhưng không được. Anh H quyết định không chịu sửa sai. Địa chính xã có xuống đo bằng thước dây, nhưng không chuẩn, anh H quyết không chịu. Hiện giờ, xã hẹn sẽ mượn máy đo ở Phòng Tài nguyên và môi trường về đo lại. Sự việc như trên, gia đình tôi phải giải quyết như thế nào? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số:1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp việc anh H không chịu là như thế nào? Anh H không chấp nhận kết quả đo đạc thì bạn cần đợi kết quả về việc mượn máy đo đạc để đo lại. Còn khi anh H không để cho cơ quan có thẩm quyền đo đạc diện tích đất trên thì căn cứ khoản 2 Điều 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;

c) Xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ."

Cũng theo khoản 1 Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:

"1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; đến 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội; đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, b, c và đ Khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính."

Như vậy, bạn có quyền nộp đơn kiến nghị tới Chủ tịch UBND cấp xã để xử phạt hành chính với hành vi trên. Hoặc bạn sẽ thực hiện yêu cầu tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai tương tự như trường hợp đã được tư vấn ở trên.

>> Tham khảo bài viết liên quan:Tư vấn giải quyết nhà hàng xóm lấn chiếm đường đi chung?

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

4. Khi nào thì việc lấn chiếm đất trái pháp luật?

Thưa luật sư, em có câu hỏi mong luật sư tư vấn giúp. Nhà em ở từ năm 1972 và làm sổ đỏ năm 2003. Trên sổ đỏ có ghi rõ phía Đông giáp đường đất rộng 3m. Phía Tây giáp đường đất rộng 3m. Tổng chiều dài từ Đông sang Tây là 26m. Vài năm trước nhà em làm ăn xa đến khi trở về thì nhà bên giáp hướng Đông đã lấy đi đường đất rộng 3m và lấn sang phần đất nhà em.

Bây giờ, nhà em đo lại đất từ Đông sang Tây chỉ còn 22m. Đường đất ngày xưa giáp Đông không còn nữa. Đến khi tranh chấp đất xảy ra thì nhà bên đem sổ đỏ mới làm năm 2013 ra. Trên sổ đỏ không có giáp đường đất rộng 3m mà giáp với nhà em luôn. Chữ ký giáp biên nhà bên cũng giả chữ ký nhà em luôn để làm sổ đỏ. Sự việc nhà em đã gửi lên UBND thị trấn nhưng 2 năm nay vẫn chưa giải quyết xong, UBND không chịu giải quyết? Gia đình em phải làm gì thưa luật sư? Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn xử lý trường hợp lấn chiếm đất, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì trên sổ đỏ có ghi rõ phía Đông giáp đường đất rộng 3m, phía Tây giáp đường đất rộng 3m, khi làm ăn xa đến khi trở về thì nhà bên giáp hướng Đông đã lấy đi đường đất rộng 3m và lấn sang phần đất nhà bạn. Đường đất ngày xưa giáp Đông không còn nữa. Như vậy, nhà bên cạnh đã thực hiện việc lấn chiếm đất nhà bạn khi phần lấn chiếm đó đã thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn.

Tại Điều 12 Luật đất đai 2013 có quy định:

“Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.
...

9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.

10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.”

Bên cạnh hành vi lấn chiếm thì nhà bên cạnh còn giả mạo chữ ký của gia đình bạn để làm sổ đỏ. Hành vi này hoàn toàn vi phạm quy định của pháp luật. Hành vi giả mạo chữ ký của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chẳng hạn: Hành vi giả mạo chữ ký của người khác để chiếm đoạt tài sản, tước quyền thừa kế của ngươì khác thì có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đối với một người có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích trục lợi thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác,…

Đối với trường hợp của bạn, nhà bên cạnh mạo danh chữ ký của bạn để làm sổ đổ đất của nhà mình, nếu để nhằm mục đích chiếm đoạt mảnh đất đó thì có thể bị xử lý hình sự khi có căn cứ xác định hành vi cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

..."

Như vậy, nếu hành vi giả mạo chữ ký của nhà bên cạnh nhà bạn đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên tùy vào các yếu tố như động cơ, mục đích phạm tội. Còn nếu chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, mức tiền xử phạt vi phạm hành chính có thể từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng phụ thuộc vào tính chất cũng như mức độ của hành vi vi phạm theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Tranh chấp về đất đai trước hết sẽ được giải quyết theo thủ tục hòa giải tại cơ sở, nếu việc hòa giải không thành thì tùy từng trường hợp theo pháp luật quy định, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp. Cụ thể:

Đối với thủ tục hòa giải ở cơ sở:

Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013, khi phát sinh tranh chấp nếu các bên không thỏa thuận được thì có quyền gửi khiếu nại tới Ủy ban nhân dân cấp xã để được hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức hòa giải cho các bên. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Như vậy, khi nhận được khiếu nại của một trong các bên tranh chấp, việc Ủy ban nhân dân xã phải mời gia đình bạn lên để tiến hành giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân xã chỉ có thẩm quyền tiến hành hòa giải giữa các bên có tranh chấp. Trong trường hợp hòa giải không thành, Ủy ban nhân dân xã sẽ lập biên bản hòa giải không thành, biên bản này phải có chữ ký của các bên.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

Khi tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã mà không thành thì sẽ được giải quyết như sau:

- Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì các bên có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

- Đối với Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai thì các bên chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau, tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc;

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã giữa gia đình bạn và các hộ liền kề không thành. Gia đình bạn có thể nộp đơn khởi kiện ra Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

>> Xem ngay: Tư vấn pháp luật về việc hiến đất làm đường đi chung?

>> Xem thêm:  Chỉnh sửa thông tin trên sổ đỏ như thế nào ? Cần làm gì khi Nhà nước ghi sai thông tin trên sổ đỏ ?

5. Tư vấn về hành vi lấn chiếm đất của nhà hàng xóm ?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê, anh chị cho em hỏi một số vấn đề về tranh chấp đất đai như sau: em là Nguyễn Thị Th, hiện đang là sinh viên trường đại học Luật Hà Nội. Em là đối tượng thuộc trẻ em không nơi nương tựa, từ nhỏ em đã phải sống với dì và bà ngoại nhưng giờ em lại phải xa nhà xa vùng đất Nghệ An nghèo nàn để theo con đường học tập thực hiện ước mơ. Và hiện nay ở nhà dì em đang có tranh chấp diện tích đất giữa 2 bờ rào với bác hàng xóm. Nhưng phần sai rõ ràng là thuộc về gia đình bác kia vì mỗi ngày bác ấy cứ lấn sang phần đất của dì em một ít thế mà trái lại bác ấy còn bạo miệng đòi gọi chính quyền và còn doạ đánh dì em bởi họ khinh thường dì em thân phận đàn bà, trong nhà lại không có đàn ông. Dì em cũng là một người dân thấp cổ bé họng, lại phải nuôi thêm một người em gái tàn tật nữa. Vụ tranh chấp này xảy ra đã từ lâu rồi khi em còn học cấp 3 nhưng do gia đình dì em không muốn làm lớn chuyện vì nể tình làng nghĩa xóm với lại sự hiểu biết về pháp luật của người dân ở Nghệ An quê em còn kém vì thế càng ngày họ càng xem thường gia đình dì em, cứ mỗi lần dì gọi điện ra kể cho em thì em chỉ biết khóc vì sự thật em cũng đang bất lực, không thể tự mình giải quyết được do trình độ hiểu biết pháp luật của em còn hạn hẹp, lại chưa có kinh nghiệm. Nhưng cứ để tình trạng này kéo dài thì tội cho dì em lắm. Vậy nên em đã lên mạng tìm kiếm đủ mọi cách giải quyết và em thật vui khi tìm được sự giúp đỡ từ anh chị. Em biết các anh chị trong đoàn đều là những người vừa có tài vừa có tâm, kinh nghiệm dồi dào.

Vậy nên em viết bức thư này gửi đến anh chị mong rằng anh chị sẽ hướng dẫn giúp em cách giải quyết vụ tranh chấp này một cách thuận lợi nhất vì gia đình dì em còn gặp nhiều khó khăn lại neo đơn, không biết nhờ vả vào ai trong khi gia đình họ lại có uy có lực. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của ạnh chị để những người ăn ngay ở thẳng như dì em không phải chịu thiệt thòi ?

Em xin chân thành cảm ơn anh chị !

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 12 Luật đất đai năm 2013 có quy định:

“Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.

...

9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.

10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật."

Tại Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có quy định như sau:

“Điều 10. Lấn, chiếm đất

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.

...

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này."

Theo các quy định trên, trong trường hợp đất thuộc quyền sở hữu của dì bạn mà hàng xóm có hành vi lấn chiếm đất của dì bạn là hành vi vi phạm pháp luật đất đai, và tùy theo hành vi và mức độ lấn chiếm, vi phạm thì sẽ bị áp dụng mức phạt tương ứng.

Theo Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, theo đó, trong trường hợp này, dì bạn có quyền yêu cầu UBND xã tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải không thành bạn có quyền làm đơn yêu cầu tòa án nơi có bất động sản để giải quyết tranh chấp trên, đòi lại quyền lợi cho dì bạn. Hoặc có thể lựa chọn một trong các cách thức đã được nêu ở trên để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về lối đi chung/đường đi nội bộ trong gia đình theo quy định pháp luật ?

6. Chứng minh việc lấn chiếm đất công như thế nào?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Cha ông A có mua một mảnh đất giáp nghĩa địa từ năm 1970, đến năm 2012 cha ông A chết nhưng không có để lại di chúc, do vậy các anh em của ông A có thống nhất chia cho ông A mảnh đất trên. Tháng 5 năm 2013 ông A có được UBND huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó xác định rõ vị trí phần đất của ông A giáp với nghĩa địa.

Tháng 11 năm 2013, ông A có làm đơn xin UBND xã và các cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận một phần đất nghĩa địa nhưng các cơ quan chức năng chưa đồng ý. Tuy chưa được các cơ quan chức năng đồng ý nhưng ông A vẫn tiến hành xây dựng hàng rào kiên cố lấn sang phần đất nghĩa địa. Xin hỏi luật sư, để chứng minh ông A lấn, chiếm đất nghĩa địa thì cần làm những việc cụ thể gì? Cần những giấy tờ gì để chứng minh ông A lấn chiếm đất công. Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự, đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hành vi lấn, chiếm đất đai là một trong các hành vi bị pháp luật đất đai nghiêm cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật đất đai 2013 và theo quy định tại Điều 3 Nghị định 102/2014/ NĐ-CP xử lý hành chính trong lĩnh vực đất đai thì:

"Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai."

Như vậy, theo thông tin mà bạn cung cấp thì mặc dù không được cấp giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng gia đình ông A vẫn tiến hành xây dựng lấn sang phần đất của nghĩa địa như vậy là vi phạm quy định của pháp luật.

Theo đó, bạn có thể viết đơn trình báo về hành vi lấn chiếm đất công của bà A gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Pháp luật hiện hành quy định về đặt cọc mua bán nhà ? Tư vấn mua bán nhà chung cư ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao được xác định như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 103 Luật đất đai năm 2013 thì :

1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;

b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;

c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

 

Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 102 Luật đất đai năm 2013 Tổ chức đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích đất sử dụng đúng mục đích.

2. Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được giải quyết như sau:

a) Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, cho mượn, cho thuê trái pháp luật, diện tích đất để bị lấn, bị chiếm;

b) Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất ở cho Ủy ban nhân dân cấp huyện để quản lý; trường hợp đất ở phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì người sử dụng đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được Nhà nước giao đất mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ đất làm đất ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải lập phương án bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cư trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất phê duyệt trước khi bàn giao cho địa phương quản lý.

3. Đối với tổ chức đang sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước cho thuê đất quy định tại Điều 56 của Luật này thì cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được Nhà nước cho phép hoạt động;

b) Không có tranh chấp;

c) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 7 năm 2004.

Câu hỏi: Nhiều dự án kiểm đếm xong, công khai phương án nhưng vài năm không thấy phê duyệt và trả tiền bồi thường, liệu có mập mờ trong quy định này không?

Trả lời:

Đáp: Căn cứ Luật Đất đai số 45 ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. UBND tỉnh Vĩnh Phúc  ban hành Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của tỉnh Vĩnh Phúc quy định chi tiết một số điều về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. Nội dung quyết định thể hiện các nội dung mà Luật, Nghị định, Thông tư trên giao cho UBND tỉnh quy định một số vấn đề cụ thể.

Do các văn bản Luật Đất đai số 45 ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường không quy định về thời gian thực hiện trình tự các bước trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng: từ khi ra thông báo thu hồi đất đến khi công khai phương án bồi thường, phê duyệt phương án bồi thường, chi trả tiền bồi thường cho người dân bị thu hồi đất là bao nhiêu ngày và cũng không quy định UBND cấp tỉnh ban hành quyết định quy định về trình tự, thủ tục thu hồi, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất nên UBND tỉnh Vĩnh Phúc chưa có căn cứ để ban hành quyết định về nội dung này.