Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm. Có thể nói ngân sách nhà nước là “túi tiền” của Nhà nước. Nguồn thu của ngân sách nhà nước phần lớn là từ thuế. Trong đó không thể kể đến thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với một số hàng hóa và dịch vụ có tính chất đặc thù.

Khái quát chung về thuế tiêu thụ đặc biệt.

Khái niệm về thuế nói chung và thuế TTĐB nói riêng.

Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định. Đặc điểm của thuế là: là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách; gắn với yếu tố quyền lực và không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.

Thuế TTĐB là loại thuế đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu.

Thuế TTĐB cũng giống như thuế GTGT đều thuộc loại thuế gián thu. Tính chất gián thu của loại thuế này thể hiện ở chỗ: thuế TTĐB đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ chịu thuế TTĐB một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hóa, dịch vụ mà người đó tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB là người nộp thuế cho Nhà nước thay cho người tiêu dùng. Như vậy, người sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ sẽ nộp thuế TTĐB và khoản thuế này được chuyển vào giá bán sản phẩm và chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu.

Vai trò của thuế TTĐB.

Thứ nhất, thuế TTĐB là một trong những công cụ giúp Nhà nước thực hiện chính sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, thuế TTĐB là một trong những công cụ kinh tế để Nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư có thu nhập cao, hướng dẫn tiêu dùng hợp lí. Thông qua việc thu thuế TTĐB, Nhà nước, một mặt, có thể định hướng tiêu dùng xã hội, góp phần tích cực vào việc hình thành xu hướng tiêu dùng xã hội lành mạnh, xu hướng tiêu dùng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế của đất nước. Mặt khác, nhà nước còn có thể huy động một bộ phận thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và có khả năng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu, không được khuyến khích tiêu dùng vào ngân sách nhà nước để sử dụng cho những mục tiêu công cộng, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

Thứ ba, thuế TTĐB là công cụ quan trọng được sử dụng nhằm ổn định và tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Do có thuế suất cao, số tiền thu được từ thuế TTĐB chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách nhà nước.

Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt.

Thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp.

Thuế TTĐB chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng. Tùy theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia mà danh mục hàng hóa và dịch vụ phải chịu loại thuế này có thể rất khác nhau. Điều này được lý giải bởi chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cũng như trong lĩnh vực điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của mỗi nước. Nhìn chung các quốc gia thường đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số mặt hàng được coi là cao cấp và không thiết yếu, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng như: thuốc hút, rượu bia, xăng dầu.

Như vậy, đối tượng chịu thuế chủ yếu là những hàng hóa, dịch vụ có tính chất đặc biệt: là loại xa xỉ phẩm cần điều tiết thu nhập, hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng do việc tiêu dùng có ảnh hưởng tiêu cực đến con người nhưng không thể cấm tiêu dùng.

Thuế suất thuế TTĐB có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác.

Thuế TTĐB có phạm vi điều chỉnh hẹp nhưng thường có mức thuế suất cao. Do đối tượng của thuế TTĐB chỉ áp dụng với một số hàng hóa, dịch vụ nên Việt Nam và các nước thường áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB cao để hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng qua đó cũng điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. Dưới góc độ điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao sau khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ xa xỉ, thuế TTĐB còn góp phần khắc phục hạn chế về công bằng theo chiều dọc của thuế GTGT

Thuế TTĐB thường chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu.

Cùng một mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi luân chuyển qua khâu lưu thông sẽ không bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt.

Nhà nước chỉ thu thuế TTĐB một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB. Khi hàng hóa và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải chịu thuế TTĐB. Đây là điểm khác biệt lớn với thuế GTGT. Nếu như thuế TTĐB chỉ đánh một lần thì thuế GTGT đánh vào phần giá trị tăng thêm của tất cả các khâu, các bước của quá trình kinh doanh, bao gồm cả sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Chính vì thế cơ sở kinh doanh được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp đối với nguyên liệu đã nộp thuế TTĐB nếu có chứng từ hợp pháp. Số thuế TTĐB dduwwocj khấu trừ đối với nguyên liệu tối đa không quá số thuế TTĐB tương ứng với số nguyên liệu dùng sản xuất ra hàng hóa đã tiêu thu. Vì vậy, việc quản lý thuế TTĐB đòi hỏi phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đảm bảo hạn chế đến mức tối đa sự thất thu thuế TTĐB tại khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ hoặc nhập khẩu.

Xu hướng thay đổi danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB ở Việt Nam hiện nay.

Năm 2018, Bộ Tài chính vừa hoàn thiện dự thảo mới về đề xuất sửa đổi 5 luật thuế. Trong đó, với Luật thuế TTĐB, các mặt hàng nước giải khát có đường sẽ phải chịu thuế TTĐB 10%. Dự thảo này không quy định cụ thể nước ngọt có ga, không ga, hay nước tăng lực, trà, cà phê… 3 lý do bộ Tài chính đưa ra là: nhằm cơ cấu lại thuế để tăng ngân sách; phù hợp với xu hướng quốc tế; và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng tránh bệnh tiểu đường và béo phì. Bộ Tài chính cho rằng, tỷ lệ người trưởng thành bị thừa cân, béo phì và tiểu đường ở Việt Nam đang ở mức cao. Bộ này cũng dẫn khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các loại đồ uống có đường ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.

Tuy nhiên, đề xuất này vẫn còn gây nhiều tranh cãi trên thực tế. Lí do được đưa ra là thuế suất 10% không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng của người dân thành thị, tuy nhiên, đối với dân cư ở nông thông thì thuế suất 10% có khả năng gây ảnh hưởng đến kinh tế của họ.

Một ý kiến cho rằng: nếu áp thuế tiêu thụ đặc biệt 10% đối với nước ngọt, cộng thêm thuế giá trị gia tăng từ 10 – 12%, rồi thuế giá trị gia tăng đối với đường từ 5% lên 6% thì giá thành của nước ngọt sẽ tăng lên ít nhất 12%, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô sản xuất và nhu cầu của người tiêu dùng. Việc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu của người dân sẽ dẫn đến tình trạng buôn lậu, sản xuất hàng giả hàng nhái. Điều này lại quay trở lại ảnh hưởng đến chính sức khỏe của người tiêu dùng. Cho đến hiện nay, đề xuất của Bộ Tài chính vẫn chưa được chấp nhận vì còn gây nên nhiều ý kiến trái chiều trên thực tế cũng như những dẫn chứng mà Bộ đưa ra vẫn chưa đủ thuyết phục để có thể thêm nước uống giải khát vào diện mặt hàng chịu thuế TTĐB.

Tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân, xét thấy nên đưa nước ngọt vào danh mục hàng hóa chịu thuế, bởi, nước ngọt đáp ứng đầy đủ các đặc điểm về đối tượng chịu thuế của thuế TTĐB. Đó là nước ngọt cũng là mặt hàng không thiết yếu, uống nước ngọt nhiều tăng nguy cơ mắc các bệnh về tiểu đường, béo phì; các cơ sở kinh doanh nước ngọt bán có lãi và hoàn toàn đủ khả năng chi trả tiền thuế về thuế TTĐB, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng đối với những mặt hàng gây hại cho sức khỏe con người.

Ngoài ra, Bộ Tài chính còn đề xuất giá tính thuế TTĐB đối với ô tô nội. Theo đó, giá tính thuế TTĐB đối với ôtô dưới 9 chỗ sản xuất trong nước sẽ là giá do cơ sở sản xuất bán ra trừ đi giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước.

Với tình hình đất nước ngày càng phát triển, chất lượng đời sống người dân ngày càng được nâng cao thì việc loại bỏ một số loại hàng hóa chịu thuế TTĐB là một vấn đề cần xem xét giải quyết. Thứ nhất, đối với mặt hàng điều hòa nhiệt độ: trước đây, máy điều hòa nhiệt độ là mặt hàng xa xỉ với đại đa số người dân, tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện nay thì việc một gia đình có 2-3 máy điều hòa là việc phổ biến; máy điều hòa đã trở thành mặt hàng cần thiết và phổ biến, nên, việc áp dụng thuế TTĐB với mặt hàng này là không hợp lý. Thứ hai, đối với mặt hàng vàng mã, hàng mã: xuất phát từ đặc điểm thực tế mặt hàng này được sản xuất trong dân chúng, trong hộ gia đình, trong các làng nghề trong khi đó thuế TTĐB lại đánh ở nơi sản xuất, nên việc thu thuế là một khó khăn lớn.

Thêm vào đó, cần xét đến việc thêm một số loại hàng hóa vào danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB khi cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội là sự xuất hiện của nhiều loại hàng hóa mới. Đó là các mặt hàng cao cấp, làm đẹp đắt tiền. Thực tế đã có những mặt hàng phụ kiện xa xỉ như đồng hồ Sarcar dòng Solitaire có giá 5 tỷ đồng, những mặt hàng túi xách sang trọng và đắt tiền của các nhãn hiệu Louis Vuitton, Hermes, Chanel, Dior đã được một bộ phận dân cư sử dụng. Không chỉ túi xách, mà ngay cả son môi giành cho các chị em phụ nữ xuất phát từ các nhãn hàng này cũng có giá cao đến trên 1 triệu đồng. Đặc điểm đều là những mặt hàng xa xỉ, và không thiết yếu, cần thiết đối với đại đa số người dân.

Công cuộc cải cách chính sách thuế của các nước trên thế giới hiện nay đang tập trung theo hướng làm thay đổi cơ cấu thuế theo hướng dịch chuyển từ thuế trực thu sang thuế gián thu, chú trọng tỷ trọng thuế gián thu trong cơ cấu tổng thu NSNN. Bên cạnh số thu từ thuế nhập khẩu sẽ giảm đi theo lộ trình cắt giảm thuế quan song phương hay theo các cam kết đa phương , việ c tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với một số mặt hàng không được khuyến khích sử dụng, hay làm ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội đã góp phần bù đắp vào các khoản thiếu hụt trong thu ngân sách từ thuế.