I. Trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dựa trên cơ sở hợp đồng. Trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là trong hoạt động cấp tín dụng, các tổ chức tín dụng thường là chủ thể áp chế tài này lên khách hàng, đối tác của mình khi họ có những căn cứ nhất định.

1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng

* Khái niệm:

- Buộc thực hiện hợp đồng là hình thức chế tài thương mại được quy định tại Điều 292 Luật Thương mại 2005

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 297 Luật Thương mại 2005

1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.

Do đó, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện 

Như vậy, buộc thực hiện thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng là việc buộc thi hành nghiêm chỉnh và đúng đắn các nghĩa vụ hợp đồng. Biện pháp này nhằm thiết lập lại vị trí ban  đầu vốn có trước khi có sự vi phạm, đưa các bên trở lại với quan hệ hợp đồng như đã thỏa thuận.

* Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một hình thức chế tài pháp lý nên nó chỉ được áp dụng khi có những căn cứ pháp lý nhất định. Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý cần thiết để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng.

Theo kh 12 điều 3 LTM 2005:

“Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”.

+ “Không thực hiện hợp đồng” là việc một bên trong quan hệ hợp đồng hoàn toàn không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào phát sinh từ hợp đồng đã cam kết

+ “Thực hiện không đúng” hợp đồng là việc bên có nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng không thực hiện đúng những điều khoản đã thỏa thuận 

2. Phạt vi phạm

 * Khái niệm

+ Theo Điều 300 LTM 2005:

“Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”

+ Khoản 1 Điều 418 BLDS 2015 cũng quy định:

“Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”.

Như vậy, chế tài này là một dạng trách nhiệm vật chất được áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng khi các bên đã có thỏa thuận một cách rõ ràng về một khoản phạt mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu khi vi phạm hợp đồng.

Phạt vi phạm được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi phạm. 

* Căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng

 

Chế tài phạt vi phạm hợp đồng chỉ có thể được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận về việc phạt vi phạm trong hợp đồng. Cơ quan tài phán tôn trọng ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng, không tự ý áp dụng khi không có thỏa thuận. Và điều khoản phạt vi phạm không phải là điều khoản bắt buộc trong hợp đồng mà tùy vào sự lựa chọn của các bên. Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc tự do thảo thuận, tự do định đoạt của đương sự.

Các bên không chỉ có quyền thỏa thuận về điều khoản phạt hợp đồng mà còn có quyền thảo thuận về mức phạt vi phạm hợp đồng. Và theo luật TM thì mức phạt đó không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ của hợp đồng bị vi phạm, không phải số % giá trị toàn bộ hợp đồng.

=> Với cách quy định như trên, sẽ giúp giải quyết được tình trạng tùy tiện trong việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với các thỏa thuận phạt, vừa đảm bảo và tôn trọng sự tự do thỏa thuận, tự định đoạt của các bên khi giao kết hợp đồng trong giới hạn mức trần phạt cho phép của nhà nước.

3. Bồi thường thiệt hại

* Khái niệm:

- Khoản 1 và khoản 2 Điều 302 LTM 2005 quy định:

“Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”.

 - Bồi thường thiệt hại chủ yếu mang tính chất đền bù những thiệt hại mà người có quyền yêu cầu phải gánh chịu do việc hợp đồng bị vi phạm, hoặc những lợi nhuận mà đáng ra được hưởng nếu như việc vi phạm hợp đồng không xảy ra.

- Bồi thường thiệt hại mang tính tài sản, đền bù thiệt hại để nhằm mục đích đưa người bị thiệt hại về với đúng vị trí mà họ đáng ra được hưởng nếu như hợp đồng được thực hiện đúng đắn và đầy đủ

* Căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại

Khác với các chế tài quy định tại điều 292 LTM 2005, chế tài bồi thương thiệt hại có riêng một điều luật quy định về căn cứ áp dụng. Theo đó, điều 303 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bôi thường thiệt hại gồm 3 căn cứ:

- có hành vi vi phạm hợp đồng

- có thiệt hại thực tế,

- hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. 

- Có thiệt hại thực tế

4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng

Theo điều 308 LTM, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau:

• Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng

• Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

Như vậy, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là trường hợp bên có nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện nhưng tạm thời không thực hiện. Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng tạm thời không thực hiện nghĩa vụ của mình vì cho rằng bên đối tác có thể vi phạm nghĩa vụ nào đó và bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng mong muốn bên đối tác phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng không làm chấm dứt nghĩa vụ hoặc phát sinh nghĩa vụ mới. Tại thời điểm một bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, hợp đồng vẫn tồn tại và có hiệu lực pháp luật nên vẫn ràng buộc các bên 

Đây là một biện pháp tự vệ vì không càn sự can thiệp của công quyền nhằm mục đích hướng bên còn lại vào việc thực hiện đúng hợp đồng. Chừng nào việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng còn có căn cứ thì bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng không phải thực hiện nghĩa vụ của mình và không phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện này. Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng chỉ được hoãn thực hiện nghĩa vụ trong một khoảng thời gian nhất định. 

Điều 308 LTM chỉ ra hai căn cứ để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

Thứ nhất, dựa vào thỏa thuận của các bên. Thứ hai, một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Tự do ý chí, thỏa thuận là nguyên tắc cơ bản của hợp đồng. Các bên có quyền tự do thương thảo những điều khoản trong hợp đồng, dự liệu những chế tài nếu có hành vi vi phạm của các bên. Vi phạm cơ bản theo giải thích tại Điều 3 Khoản 13 LTM

là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.

Như vậy theo LTM hiện hành, những vi phạm không cơ bản không cho phép bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

5.Đình chỉ thực hiện hợp đồng

Theo điều 310, đình chỉ việc thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

• Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ thực hiện hợp đồng

• Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Đình chỉ thực hiện hợp đồng là quyền của bên bị vi phạm. Bên bị vi phạm có quyền không tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa bất kể bên kia có muốn hay không.  

Căn cứ để áp dụng chế tài đình chỉ việc thực hiện hợp đồng hoàn toàn giống với căn cứ tạm ngừng thực hiện hợp đồng như trình bày ở phần trên. Nhưng hậu quả pháp lý của hai chế tài này hoàn toàn khác nhau. Khi bên bị vi phạm tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì bên vi phạm vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình. Do đó hợp đồng vẫn có hiệu lực. Còn đối với trường hợp đình chỉ hợp đồng thì lại khác.

Trong các biện pháp xử lí việc không thực hiện đúng hợp đồng, thì đình chỉ thực hiện hợp đồng là biện pháp mạnh nhất vì nó làm triệt tiêu hợp đồng, hợp đồng sẽ không được thực hiện và các bên sẽ không được những gì họ mong đợi. Đình chỉ thực hiện hợp đồng chỉ là biện pháp cuối cùng khi không thể có biện pháp nào khác để tiếp tục thực hiện hợp đồng, dù chỉ là một phần.Về cơ bản, các bên trong hợp đồng muốn thực hiện hợp đồng đúng như trong thỏa thuận chứ không phải khoản tiền bồi thường từ sự vi phạm của bên kia. Việc hợp đồng không được thực hiện có thể gây ảnh hưởng lớn đến kế hoạch, dự định của các bên.

Theo Khoản 1 Điều 131 LTM, khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. Bên bị vi phạm có quyền yêu càu bên vi phạm đèn bù thiệt hai nó có hành vi thiệt hại gây ra cho mình.

6. Hủy bỏ hợp đồng

Điều 292 LTM quy định việc hủy bỏ hợp đồng là một trong các chế tài của LTM. Điều này có thực sự đúng? LTM không nêu ra các căn cứ cụ thể để áp dụng chế tài Hủy bỏ hợp đồng. Chế tài là hậu quả pháp lí bất lợi ngoài mong muốn được áp dụng với bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Về nguyên tắc, các bên có quyền kí kết hợp đồng thì cũng có quyền hủy bỏ hợp đồng.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu hai bên thỏa thuận với nhau về vấn đề hủy bỏ hợp đồng thì liệu Hủy bỏ hợp đồng còn được xem là chế tài hay không?

Theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 312 LTM,

hủy bỏ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Còn hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng. Các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.