II. Trách nhiệm hành chính

Xử lý vi phạm hành chính được coi như là công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước thiết lập, duy trì, bảo vệ trật tự quản lý Nhà nước, là phương tiện để cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Quy định về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động ngân hàng là sự cụ thể hóa quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính vào trong lĩnh vực kinh doanh cụ thể - kinh doanh ngân hàng.

Nội dung quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

- pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng đã quy định chi tiết vi phạm hành chính trong hoạt động ngân hàng, là cơ sở pháp lý để phát hiện, xác định hành vi vi phạm và mức xử phạt phù hợp. Các vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng bao gồm:

+ Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng giấy phép

+ Vi phạm quy định về tổ chức, quản trị, điều hành

+ Vi phạm quy định về cổ phần, cổ phiếu, phần vốn góp

+ Vi phạm quy định về huy động vốn và phí cung ứng dịch vụ

+ Vi phạm quy định về huy động vốn và phí cung ứng dịch vụ

+ Vi phạm quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng - Vi phạm quy định về cấp tín dụng, nhận ủy thác, ủy thác và hoạt động liên ngân hàng

+ Vi phạm quy định về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng

+ Vi phạm quy định về thanh toán, quản lý tiền tệ và kho quỹ

+ Vi phạm quy định về bảo hiểm tiền gửi

+ Vi phạm quy định về cản trở việc thanh tra, không thực hiện yêu cầu của người có thẩm quyền

+ Vi phạm quy định về an toàn công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng.

- Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng quy định về hình thức xử phạt, mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả. Theo đó, cảnh cáo và phạt tiền được áp dụng là biện pháp xử phạt chính.

Các hình thức xử phạt bổ sung áp dụng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng bao gồm:

+ Đình chỉ có thời hạn đối với hoạt động ngoại hối trong thời hạn 03 tháng đến 06 tháng, nghiệp vụ ủy thác trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng, hoạt động mua, bán nợ trong thời hạn 03 tháng đến 06 tháng, việc thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng, việc sử dụng dịch vụ công nghệ thông tin của bên thứ ba trong thời hạn từ 1 tháng đến 3 tháng.

+ Tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn đối với: Giấy chứng nhận đăng ký đại lý đổi ngoại tệ trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng; giấy phép thu, chi ngoại tệ và hoạt động ngoại hối khác đối với hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, hoạt động kinh doanh casino trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng; giấy phép thành lập bàn đổi ngoại tệ cá nhân trong thời hạn từ 01 tháng đến 06 tháng; giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng trong thời từ 06 tháng đến 09 tháng.

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, tịch thu giấy phép đã bị tẩy xóa, sửa chữa, tịch thu ngoại tệ, đồng Việt Nam, tịch thu vàng

- Về mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng quy định mức phạt tiền cao nhất áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành.

Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng đối với tổ chức vi phạm là 2.000.000.000 đồng và đối với cá nhân vi phạm là 1.000.000.000 đồng.

Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng quy định mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm của cá nhân là người làm việc tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô bằng 10% mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này; mức phạt tiền đối với quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, đơn vị phụ thuộc của các tổ chức này bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân là người làm việc tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô. Quy định đặc thù này đối với quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô là phù hợp xuất phát từ bản chất, mục tiêu hoạt động của hai loại hình tổ chức tín dụng này.

Như vậy, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng là công cụ hữu hiệu để Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốt chức năng thiết lập, bảo vệ trật tự thị trường ngân hàng, từ đó góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, đóng góp tích cực vào việc đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

III. Trách nhiệm hình sự

Tranh chấp tín dụng là tranh chấp về các hợp đồng tín dụng gồm: hợp đồng cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hoạt động khác. 

Về các tội phạm trong hoạt động ngân hàng liên quan đến các tranh chấp tín dụng.

a. Các tội liên quan đến hoạt động ngân hàng

Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật ngân hàng, được quy định trong BLHS, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến hoạt động đúng đắn của ngân hàng, tổ chức tín dụng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và xã hội.

Chương XVI: Các tội xâm phạm sở hữu

• Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Hành vi lừa đảo với các thủ đoạn như tạo dựng hồ sơ dự án để thế chấp vay vốn ngân hàng: các đối tượng phạm tội đăng ký thành lập doanh nghiệp để lấy tư cách pháp nhân, sau đó xây dựng các bộ hồ sơ dự án giả mạo để thế chấp vay ngân hàng; giả mạo hợp đồng đồng mua bán hàng hóa để thế chấp vay vốn ngân hàng: đối tượng phạm tội thường làm giả con dấu của doanh nghiệp khác, tạo ra các hợp đồng mua bán hàng hóa; hoặc lập ra nhiều doanh nghiệp để ký kết các hợp đồng kinh tế giả mạo dùng thế chấp vay vốn ngân hàng; giả mạo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở; hoặc lừa đảo sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân; hoặc cùng một tài sản (nhà, đất) lập ra nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở, đất ở đem thế chấp tại nhiều ngân hàng để vay vốn. Mua chuộc cán bộ nhà nước, cán bộ ngân hàng tiếp tay cho hành vi lừa đảo.

• Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS

Lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của các ngân hàng, tổ chức và cá nhân. Cán bộ ngân hàng lợi dụng vị trí công tác, uy tín của ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm rút tiền của ngân hàng hoặc chiếm đoạt tiền của các tổ chức, cá nhân, thông qua các biện pháp nghiệp vụ như: huy động vốn cho ngân hàng (thỏa thuận trả lãi suất cao hơn quy định Nhà nước cho phép), sau đó không đưa vào ngân hàng mà chiếm đoạt luôn tiền, tài sản của các cá nhân, tổ chức.

Chương XVIII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Mục 2: các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

• Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Cấp tín dụng cho trường hợp không được cấp tín dụng, trừ trường hợp cấp dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng;

b) Cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;

c) Vi phạm quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn cho hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;

d) Cố ý nâng khống giá trị tài sản bảo đảm khi thẩm định giá để cấp tín dụng đối với trường hợp phải có tài sản bảo đảm;  đ) Vi phạm quy định của pháp luật về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng;

e) Cấp tín dụng vượt giới hạn so với vốn tự có đối với một khách hàng và người có liên quan, trừ trường hợp có chấp thuận của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

g) Vi phạm quy định của pháp luật về góp vốn, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, điều kiện cấp tín dụng;

h) Phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả;

i) Kinh doanh vàng trái phép hoặc kinh doanh ngoại hối trái phép;

k) Tiến hành hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng.

Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. 36 4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

• Tội làm, tàng trữ lưu hành tiền giả

Chương XXIII: Các tội phạm về chức vụ

• Tội tham ô tài sản

• Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản Một số cán bộ ngân hàng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi phạm tội vì động cơ vụ lợi và có sự tính toán, che giấu tinh vi khi thực hiện.; cán bộ ngân hàng sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm sửa chữa, tẩy xóa nâng giá trị tiền lên nhiều lần trong các chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng phát hành, rồi đem thế chấp tại chính ngân hàng mình đang công tác. Cán bộ ngân hàng bị lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho tội phạm. Những người ngoài ngành ngân hàng chỉ thực hiện được tội phạm khi lôi kéo, mua chuộc được cán bộ ngân hàng, chủ yếu là cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng, cán bộ thẩm định hồ sơ, tài sản thế chấp, hoặc lãnh đạo của các chi nhánh ngân hàng, bằng cách cho hưởng phần trăm hoặc “hoa hồng” trên tổng số tiền vay, thực chất những hành vi đó là đưa, nhận hối lộ để có được sự thông đồng tiếp tay của cán bộ ngân hàng dưới nhiều hình thức.

• Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, để xử lý hành vi sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ và hành vi làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

• Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng để xử lý hành vi mua bán thông tin dữ liệu khách hàng thu lợi bất chính;

• Tội rửa tiền để ngăn chặn hành vi đưa “tiền bẩn” vào lưu thông trong hệ thống ngân hàng nhằm che giấu nguồn tiền bất hợp do phạm tội mà có.

b. HÌNH PHẠT

* HÌNH PHẠT CHÍNH:

tù có thời hạn, cải tạo ko giam giữ, phạt tiền, trục xuất, tù chung thân, tử hình. Do tiền là đối tượng tác động của các tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng nên mục tiêu đặc trưng của hình phạt hướng tới khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây nên, nhằm làm nhẹ tổn thất về số tiền, tài sản cho đất nước và xã hội, chứ không hướng tới mục đích phạt tù.

* HÌNH PHẠT BỔ SUNG:

cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định, tịch thu tài sản, phạt tiền, trục xuất Hình phạt bổ sung được áp dụng nhiều nhất là phạt tiền, tiếp đó là hình phạt tịch thu tài sản, hình phạt trục xuất được áp dụng ít nhất do các bị cáo trong các vụ án về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng chủ yếu là người mang quốc tịch Việt Nam.

* BIỆN PHÁP TƯ PHÁP:

Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản là biện pháp tư pháp đối với các tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Mục đích của việc quy định biện pháp này nhằm tịch thu sung công quỹ Nhà nước tiền hoặc tài sản mà người phạm tội có được từ việc nhận hối lộ hoặc thu lợi bất chính từ các giao dịch bất hợp pháp liên quan đến hành vi phạm tội.