Tôi không nhớ rõ số tiền lúc đó nhưng cũng khoảng 8 triệu đồng( Tám triệu đồng chẵn ) . Chị H có nói khi nào đi làm có tiền hứa sẽ gửi lại cho tôi. Lần thứ 2 là có hỏi mươn tôi 19 triệu đồng ( mười chín triệu đồng chẵn ) để mua điện thoại, tôi có đi cùng chị ấy đến của hàng điện thoại F5 Mobile tại địa chỉ Cầu Giấy Hà Nội. Có mua 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S màu hồng. Tôi có thanh toán cho nhân viên của hàng số tiền hơn 18 triệu đồng tại thời điểm đó. Mọi thứ thông tin được cửa hàng lưu trên phần mềm và hóa đơn tại của hàng. Hiện nay chị H vẫn sử dụng nó. Ngoài ra còn rất nhiều lần hỏi vay tôi những khoản tiền nhỏ lẻ để mua quần áo, mỹ phẩm, ngay cả tiền về quê cũng vay và còn vay cả tôi khi về quê tôi bằng hình thức gửi chuyển khoản vào tài khoản mang tên cô ấy với lý do bố mẹ làm lại nhà và muốn hỗ trợ bố mẹ. Hay nhờ tôi mua thẻ điện thoại với nhiều mệnh giá khác nhau có cả thẻ trị giá 500.000 nghìn đồng và yêu cầu gửi cả số sery của thẻ. Tôi không nhớ hết số lặt vặt đó nhưng tôi tìm lại nếu tôi còn lưu dữ được tin nhắn hay hình ảnh nào tôi xẽ chuyển cho cơ quan diều tra sau. Tôi coi trọng chị coi như người mình yêu và sau này lấy làm vợ nên tôi cũng không thể ngờ sau này lại lừa tôi như vậy. Cụ thể nhất của hành vi lừa đảo này là sự việc gần đây nhất tôi xin trình bày như sau. Ngày 13 Tháng 6 năm 2016 tôi có dự định đi mua láp tóp và một máy tính bảng về để phục vụ công việc cua cá nhân. Nhưng tôi thấy mình còn thiếu mất gần 600.000 nghìn đồng nên định không mua nữa. Khi tôi hỏi cô ấy thì cô luôn tìm mọi lý do để nói và trấn an tôi về chiếc máy tính. Khoảng 1 tháng trước khi chia tay, cô ta luôn tìm mọi lý do để trách móc tôi dù chỉ là câu nói cô ấy cũng này nọ, bắt lỗi rồi giận tỏ thái độ muốn chia tay rồi luôn tìm mọi lỗi dù nhỏ để nói này nọ với tôi. Tôi có nhắc và nói muốn lấy lại cái máy tính xách tay và cái máy tính bảng để làm việc thì cô ta bỏ về và nói mai cô ấy đem qua cho tôi. Nhưng mấy hôm rồi đến cả tuần tôi không thấy, tôi gọi thì cô ấy bảo không cầm hay mượn gì của tôi và bảo đồ của anh tôi có cầm đâu mà sao anh lại hỏi tôi. Đến lúc đấy thực sự tôi không còn lời giải thích nào về hành vi này ngoài việc cố tình chiếm đoạt tài sản của tôi. Sau đó tôi còn biết cô ấy còn đâm đơn lên cơ quan công an kiện tôi lừa đảo cô ấy và vay tiền, lấy xe máy cá nhân của cô ấy để bán. Sự việc này tôi sẽ trình báo quý cơ quan trong nội dung khác. Từ những sự việc trên, có thể khẳng định Chị N  đã dùng thủ đoạn gian dối khi tạo cho tôi sự tin tưởng nhằm mục đích chiếm đoạt tiền và đồ đạc có giá trị lớn của tôi. Qua thủ đoạn và hành vi như trên, chị N  đã chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn của tôi.

Em viết nội dung đơn tố cáo như vậy, xin hỏi phía luật sư. em căn cứ vào các tình tiết cụ thể như vậy, em có cả hóa đơn, hình ảnh gửi, và sao kê của ngân hàng. Liệu em đã đầy đủ mọi thứ chứng minh là mình bị lừa chưa ạ.... ( cô ấy dọa em là nhà toàn công an, chú là phó giám đốc công an, rồi cô ấy còn viết đơn kiện em lừa lấy xe máy của cô ấy, rồi vay 25 triệu của cô ấy với cơ quan điều tra ).

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Hình sự công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Nội dung tư vấn:

Theo Khoản 2 Điều 168 Bộ luật dân sự 2005: Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản  

"2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".

Những tài sản mà chi H vay tiền bạn để mua là tài sản của chị H. Do đó, chị H phải có trách nhiệm trả lại bạn số tiền đã vay. 

 Hợp đồng vay tài sản tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định".

Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

Mặt khác, theo thông tin bạn cung cấp thì bạn là chủ sở hữu của máy tính xách tay và máy tính bảng trên. 

Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu quy định tại Điều 169 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 169. Bảo vệ quyền sở hữu

1. Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ.

2. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình.

Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.

3. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo quy định của pháp luật".

Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tại Điều 255 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 255. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật". 

Theo Điều 186 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Quyền khởi kiện vụ án.

"Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình".

Hình thức, nội dung đơn khởi kiện tại Điều 189 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:

a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.

3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án".

Đơn khởi kiện của bạn phải phù hợp đúng và đủ các quy định của pháp luật. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự.