NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Số đầu sách sản xuất hàng năm ở những nước được lựa chọn

1.1 Bảng về số đầu sách sản xuất hàng năm ở những nước được lựa chọn

1991

1997

Ac-hen-ti-na

6.092

11,919

Bra-xin

13.893

51,460

Trung Quốc

96.761

120.106

Ấn Độ

53.394

57.386

I-ta-li -a

40.142

45.844

Li-thu-a-ni-a

2.483

3.827

Phi-lip-pin

3.320

3.770

Nga

28.716

36.237

Thụy Điển

11.866

13.210

Vương quốc Anh

67.704

100.029

1.2 Nội dung

Đẩu tư nưóc ngoài, khối lượng và loại hình chuyển giao công nghệ do Đức, Nhật Bản và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thực hiện dường như bị ành hưởng đáng kề bởi hệ thống và mức độ bào hộ sở hữu trí tuệ ở nưóc tiếp nhận. Mặc dù thiếu vắng bàng chứng định lượng về tác động của bào hộ SHTT đối với các nước đang phát triển, có lẽ có sự nhất trí ràng đang tồn tại một mối quan hệ hai chiều và tăng cường lẫn nhau giữa SHTT và thương mại quốc tế, tức là bảo hộ SHTT nâng cao thêm mức tàng trưởng kinh tế và ngược lại. Bên cạnh đó, cũng cần phải xem xét sự được và mất ở tầm ngắn hạn cũng như dài hạn. Liên quan đến bàng độc quyền sáng chế, tài liệu cho thấy "bào hộ theo bàng độc quyền sáng chế nâng cao mức tăng trưởng kinh tế khi mà một trình độ phát triển nhất định đã đạt được." Gần đây có những chì dẫn cho thấy bảo hộ SHTT có thể bị ảnh hưởng bởi những cuộc thào luận về chính sách SHTT ví dụ tranh luận về SHTT trong lĩnh vực công nghệ sinh học, và nguồn gen, quyền đối vói giống thực vật và quyền của người canh tác, cuộc tranh luận đang nồi lên về bàng độc quyền sáng chế đối vói các dự án bản đồ gien ngươi, nguồn gien, đa dạng sinh học, trì thức truyền thống, vãn học-nghệ thuật dân gian và những lĩnh vực hoạt động khác đòi hỏi nỗ lực cao về trí tuệ và thương mại.

SHTT đã trở thành một đặc thù quen biết trong quản lý kinh doanh, đặc biệt là ở châu Âu và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Nó ảnh hưởng đến ứng xử của các hãng trong xử lý đầu tư cho những dự án đổi mới, hoặc trong phân lập sản phẩm,50 sáp nhập và mua lại , liên minh công nghệ, liên doanh và li-xăng.

2. Số liệu về sáp nhập và mua lại dựa trên sở hữu trí tuệ

Vào năm 1997, Texas Instrument đã trà khoản tiền gây sửng sốt 395 triệu USD để mua Amati Communications, một công ty nhỏ đóng ở California do Giáo sư Cioffi thuộc Trường đại học Stanford thành lập. Con số đã làm kinh ngạc nhiều người bởi vì cực kỳ cao so vơi doanh thu hàng năm và tình trạng tài chính của Amati Communications. Tại sao một công ty bán dẫn lớn trà cái giá cao như vậy để mua một công ty nhỏ mói bát đầu gia nhập Thung lũng Silicon? Câu trà lời là đơn giãn. Amati Communications nắm giữ 25 bàng độc quyền sáng chế then chốt về công nghệ Đường dây thuê bao (DSL) mà Texas Instruments coi là có ý nghĩa quyết định đối với việc tham gia thị trưòng DSL. 25 bàng độc quyền sáng chế đó bao quát một số lĩnh vực quan trọng công nghệ hiện đại thế hệ tiếp theo mà Viện Tiêu, chuẩn quốc gia Mỹ đã công nhận là tiêu chuẩn choi DSL. Việc sở hữu các bàng độc quyển sáng chế của Amati Communications đã cho phép Texas Instrument chiếm lĩnh vị trí lãnh đạo trong công nghệ mói lợi nhuận đầy hứa hẹn từ việc li-xãng công nghệ đó cho những hãng khác.

Sở hữu đối vói những hình thức sở hữu trí tuệ khác chẳng hạn hhư nhãn hiệu hàng hoá cũng có thể là một yếu tố quyết định đàng sau sự sáp nhập hoặc mua lại (M&A). Ví dụ nhà sản xuất chè Ấn Độ Tata Tea gần đây đã mua lại Tetley Ltd. ở Vương quốc Anh, với tuyên bố ràng một trong các lý do chính của.việc mua lại là đạt tói sự tiếp cân với tên hiệu toàn cầu và mạng phân phối toàn .cầu. Việc mua lại Tetley đã cho Tata Tea khả năng mở rộng hoạt động, cùa mình và có được một nhãn hiệu hàng hoá được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu đề bán sản phẩm của mình khắp thế giới.

Hai thập kỷ vừa qua đã chứng kiến sự mở rộng quy mô lón trong hoạt động M&A, đạt tỷ lệ tâng trưởng hàhg năm 42% và 2,3 nghìn tỷ USD trong nãm 2000. Nguyên nhân dẫn đến M&A trong nước và quốc tế có nhiều mặt, bao gồm lợi thế liên quan đến tính kinh tế quy mô lổn và tiếp cận với những thị trưòng mới. Theo Báo cáo về Đầu tư thế giới năm 2000, “động cơ thúc đẩy đứng hàng chủ yếu thứ hai khiến các hãng tiến hành sáp nhập hoặc mua lại một công ty đang hoạt động, thay vì mở rộng về tổ chức, là sự tìm kiếm nhũng tài sân chiến lược, chẳng hạn như R&D hoặc bí quyết kỹ thuật, bàng độc quyền sáng chế, tên hiệu, việc nắm giữ giấy phép và li-xâng trong nước và mạng lưói cung cấp hoặc phân phối"

Có nhiều cách để kích thích hoạt động đổi mói, như R&D do chính phủ tài trợ, khuyến khích sử dụng tiền tiết kiệm và tài nguyên khác của gia đình nhà sáng chế trong đầu tư vốn và gần đây nữa là trợ giúp sự tham gia của cái gọi là "thiên thần đẩu tư". Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của SHTT đã tăng lên một cách vững chắc bàng sức của chính mình, đặc biệt là trong những lĩnh vực được thúc đẩy bởi tri thức, như công nghệ thông tin, liên lạc và công nghệ sinh học.

3. Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong vai trò chính sách tăng trưởng

Bảo hộ sở hữu trí tuệ thưòng được xem như một công cụ của chính sách công nghiệp có mạng lưđi rộng khắp nển kinh tế.

Trong hoàn cảnh của các nước đang phát triển, có hai yếu tố xác định môi trường để tiếp nhận khả năng công nghệ. Một mặt, các nươc đang phát triển nhận ra rằng để hoà nhập với xu thế toàn cầu hương tới thương mại tự do hơn và để khuyến khích đẩu tư nước ngoài thì bâp hộ sở hữu trí tuệ một vcách thích đáng là điều hệ trọng. Mặt khác, khối lượng tri thức công nghệ hiện đang thuộc lĩnh vực công cộng lớn hơn nhiều so với hai thập kỷ trước đây.

Mọi đất nước đều có những con người thông minh tài giỏi có khả năng đổi mới và hy vọng ràng năng lực của những người đó được đẩu tư một cách tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong việc này, hệ thống sở hữu trí tuệ có thể và thực sự đang đóng một vai trò quyết định, đạc biệt là són sàng cung cấp cho họ những thông tin công nghệ cập nhật mói nhất thông qua thông tin về bàng độc quyển sáng chế; hệ thống SHTT cũng ngăn ngừa việc "xuất khẩu" khả nãng sáng tạo tri thức của đất nước sang những nước khác nơi những khả năng đó có thể được sử dụng tốt hơn. Ví dụ ở một nước, những đổi mới quan trọng về mặt thương mại do trưởng đại học trong nước thực hiện lại được bộc lộ bởi những ngưòi khác nhàm mục đích nhận bàng độc quyền sáng chế ở Ca-na-đa, Mê-hi-cô và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, bởi vì các quan chức trường đại học coi luật về bàng độc quyền sáng chế trong nưóc là không thoả đáng. Điều này có nghĩa là giá trị sẽ được gia tăng ở nưóc ngoài mà không phải ở trong nưđc đó.

Tác động của SHTT đối với phát triển kinh tế đôi khi bị giảm bớt bởi khả nâng cung cấp và sức mạnh của sự bào hộ SHTT mà ngưòi ta nhận thức được.s' Ví dụ mức độ bào hộ cao hơn đối với công nghệ và phương pháp kinh doanh của một hãng có thể tin rống sẽ khuyến khích hãng đó đầu tư vào huấn luyện công nhân của mình để nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh. Trong lĩnh vực phát triển vốn mạo hiểm, trừ khi biết được có sự bảo hộ SHTT thích đáng, cá nhân người sáng chế và các công ty nhỏ có khuynh hưdng không bộc lộ những đổi mđi của họ trong quá trình thương lượng đối tác mạo hiểm vì sợ mất quyền sở hữu hoặc kiểm soát.58Trong khu vực nông nghiệp, nơi mà từ trước tới nay chính phủ do dự trong đổu tư vào nghiên cứu, người ta thưòng tìm kiếm nguồn tài chính từ khu vực tư nhân. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khu vực tư nhân không muốn đầu tư vào nghiên cứu, bởi vì không có khả năng bảo hộ được kết quả nghiên cứu.

Quan điểm mạnh mẽ đã thắng thế trong những năm 1970 là bởi vì "các nưóc đang phát triển không đứng ở hàng đầu về mặt công nghệ, sự khuyến khích mà SHTT đặc biệt là bàng độc quyền sáng chế, cung cấp cho đầu tư trong nghiên cứu và triển khai chỏng có ý nghĩa gì. Trong những hoàn cảnh chỉ có thể sử dụng được bão hộ SHTT ở mức độ thấp, như ở hẩu hết các nưởc chậm phát triển (LDCs) và một số nước đang phát triển, các công ty thường phụ thuộc vào những giải pháp công nghệ cũ, hết hiệu lực bàng độc quyền sáng chế hoặc không được cấp bống độc quyền sáng chế. Nhiều sáng chế từ các nưdc đang phát triển, nhất là ở các trưòng đại học sử dụng ngân sách nhà nưóc, đã không được thừa nhận là có thể được cấp bồng độc quyền sáng chế. Như vậy tiến bộ công nghệ tiềm tàng nhiều khi không bao giờ được nhìn thấy ánh sáng ban ngày/0 Trong một cuộc hội nghị điện tử mái đây vể chủ để này, một bản khuyến nghị đã được gửi tới Ngân hàng Thế giới nói ràng việc thuyết phục mạnh mẽ và trợ giúp các nước đang phát triển thiết lập mức độ bào hộ SHTT cao hơn phải là cách tiếp cận ưu tiên trong lĩnh vực công nghệ sinh học, sao cho giá trị thị trường lón hơn có thể được nhìn nhận ở trong nưỏc bởi tài nguyên sinh học được phát triển, hơn là thúc đẩy cái mà về cơ bản vẫn là tiếp tục xuất khẩu nguyên liệu thô thông qua hợp đồng chuyển giao nguyên liệu.

4. Khả năng có thể nhận biết được của sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển:

Nội dung trình bày các khác biệt trong đầu ra kinh tế (giá trị gia tăng trong GDP) theo mức thu nhập cùa một nưóc. Vì các khác biệt này trong cơ cấu đầu ra, các nước đang phát triển có thể sử dụng và phát triển các loại công nghệ khác nhau và sau đó tận dụng lợi ích của SHTT theo những cách thức khác nhau.

Trong khu vực chế tạo, rất có khả năng là bào hộ SHTT sẽ tác động chủ yếu đối vói hiện đại hoá máy móc và quy trình sàn xuất. Nhưng ở khu vực nghèo nhất thế giới, nơi ngưòi ta sống vói chưa đầy một đô-la một ngày, dưói 5% hoạt động kinh tế liên quan đến chế tạo. Hoạt động sở hữu trí tuệ phải liên hệ vđi các ưu tiên kinh tế của đất nước. Rõ ràng là trong khi một hệ thống SHTT có thể mang lại tiềm năng cho đổi mói, sáng tạo và tăng trưởng trong nển kinh tế quốc dân nó không hề là phương thuốc trị mọi cân bệnh. Chỏng những cần có một hệ thống kết cấu hạ tầng pháp lý thích hợp và những chính sách tiến bộ về bào hộ sở hữu trí tuệ mà còn cần có những chính sách quốc gia chủ động về SHTT cũng như sự tin tưởng và hiểu biết tích cực, rộng rãi của công chúng. Các nội dung về vấn đề SHTT có thể thúc đẩy phát triển kinh tế như thế nào, đặc biệt là trong trường hợp của các lĩnh vực bồng độc quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý và quyền tác già.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê