1. Các trường hợp hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Theo khoản 1 Điều 10Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC thì ​việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm bị hủy bỏ trong các trường hợp sau đây:

- Khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

- Bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội;

- Bị can, bị cáo chết;

- Bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan;

- Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam;

-  Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể: 

Bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

2. Thủ tục hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Việc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm được thực hiện theo khoản 2 Điều 10Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

- Đối với trường hợp khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can; Bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội; Bị can, bị cáo chết:

Nếu vụ án trong giai đoạn truy tố, xét xử thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định hủy bỏ; nếu vụ án trong giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

- Đối với trường hợp quy định bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;

- Đối với trường hợp bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam, thì cùng với việc ra bản án, Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

- Đối với trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan nếu vụ án trong giai đoạn truy tố, xét xử thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định hủy bỏ và ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam; nếu vụ án trong giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ và ra lệnh bắt bị can để tạm giam;

- Đối với trường hợp bị can, bị cáo bỏ trốn nếu vụ án trong giai đoạn truy tố, xét xử thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định hủy bỏ, đồng thời, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, bị cáo; nếu vụ án trong giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ, đồng thời Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can.

- Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm phải ghi rõ việc xử lý đối với tiền đã đặt để bảo đảm và phải được giao cho bị can, bị cáo, người được bị can, bị cáo ủy quyền, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, đồng thời, gửi cho cơ quan là chủ tài khoản tạm giữ và Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan tài chính trong Quân đội đang quản lý tiền đã được đặt để bảo đảm.

3. Xử lý đối với tiền đặt để bảo đảm khi hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

- Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều 10 của Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC:

a) Khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

...

c) Bị can, bị cáo chết;

d) Bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan;

đ) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam;

Tiền đã đặt để bảo đảm được trả lại cho bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là chủ sở hữu số tiền theo cam kết khi đề nghị được đặt tiền để bảo đảm. Trường hợp bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất chết thì tiền đã đặt để bảo đảm được xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành về thừa kế.

- Trường hợp quy định tại điểm b và điểm e khoản 1 Điều 10 của Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC:

...

b) Bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội;

...

e) Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiền đã đặt để bảo đảm bị tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Vì sao biện pháp đặt tiền để bảo đảm ít được áp dụng?

- Nguyên nhân đầu tiên là sự nhận thức cũng như ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật của người dân còn hạn chế rất nhiều, chưa kể đến nhận thức và ý thức của người phạm tội. Từ tồn tại này dẫn đến việc cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải cân nhắc rất nhiều khi quyết định có áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hay không.

- Do khó khăn từ những quy định của pháp luật tố tụng hình sự, đó là:

+ Nguyên tắc áp dụng: “Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải cân nhắc hiệu quả, tính khả thi của việc thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm”. Vì vậy, khi cân nhắc tính hiệu quả, tính khả thi, cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ phải đắn đo, suy nghĩ rất kỹ càng trước khi quyết định có áp dụng hay không. Thực tế là cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ cân nhắc tính hiệu quả, tính khả thi mà còn phải cân đối giữa lợi ích và nguy cơ.

+ Việc bổ sung thêm đối tượng được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng một mặt tạo điều kiện cho bị can, bị cáo nhưng mặt khác nó cũng là một hạn chế lớn bởi thật sự khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi quyết định áp dụng biện pháp này cho loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm.

+ Chế tài quy định trong trường hợp bị can, bị cáo vi phạm cam đoan là số tiền đã đặt sẽ bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước và bị can, bị cáo sẽ bị bắt tạm giam ngay. Chế tài này liệu đã đủ sức răn đe hay chưa trong trường hợp đối với một số hành vi gây nguy hiểm lớn cho xã hội, bị can, bị cáo có thể sẵn sàng chấp nhận mất số tiền đã đặt. 

- Do cơ quan tiến hành tố tụng chưa mạnh dạn áp dụng, vì các lý do:

 + Việc quy định đối tượng được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm dựa vào nhân thân người phạm tội, trong thực tế có thể căn cứ vào nhân thân đủ điều kiện, nhưng căn cứ vào tội phạm gây ra có thể là tội phạm rất nghiêm trọng nếu cho áp dụng, một mặt tạo điều kiện cho bị can, bị cáo nhưng mặt khác nó cũng là một hạn chế lớn bởi tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Thật sự vô cùng khó khăn cho công tác quản lý sau này khi những tội phạm rất nghiêm trọng vi phạm cam đoan về nghĩa vụ đặt tiền.

+ Tâm lý chung của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là e ngại các thủ tục hành chính, mất nhiều thời gian, phải làm hồ sơ tới lui, liên hệ Kho bạc, cơ quan tài chính trong Quân đội, các vấn đề về hoàn trả, tịch thu, trách nhiệm khi ký các Thông báo, quyết định, việc chứng minh tài sản hợp pháp … 

+ Do công tác quản lý chưa thực sự tốt nên các cơ quan tiến hành tố tụng chưa tự tin để quyết định áp dụng. 

5. Ưu điểm của việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

- Quy định về biện pháp đặt tiền để bảo đảm đồng nghĩa với việc biện pháp tạm giam sẽ từng bước được hạn chế ở mức thấp nhất vì trên thực tế, việc tạm giam bị can, bị cáo đem lại những hạn chế nhất định. Khi áp dụng biện pháp tạm giam sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của bị can, bị cáo, thậm chí tính mạng có thể bị xâm phạm. Mặt khác, khi bị tạm giam, bị can, bị cáo còn bị ảnh hưởng nặng nề đến cả công việc, thu nhập trong trường hợp cá nhân họ và cả những người sống phụ thuộc vào thu nhập của họ. Điều này đồng nghĩa với việc, nền kinh tế, xã hội cũng một phần chịu tác động theo nếu bị can, bị cáo đó nắm vai trò ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh trong xã hội. Từ những hệ lụy của biện pháp tạm giam như vậy, thì việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thay thế biện pháp tạm giam sẽ là một giải pháp phù hợp, đem lại hiệu quả tốt cho xã hội và cần phải được áp dụng tối đa trong điều kiện cho phép.

- Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm sẽ giảm áp lực trong công tác quản lý tại các cơ sở giam giữ. Các vấn đề khác có liên quan như cơ sở vật chất, đội ngũ phục vụ, thậm chí cả các chi phí ăn uống, sinh hoạt … cũng giảm bớt.

- Mức tiền đặt không cao, phù hợp với khả năng của bị can, bị cáo; người thân thích của bị can, bị cáo.

- Trình tự, thủ tục quy định cụ thể trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính trong Quân đội và người nộp tiền. Thủ tục khá đơn giản, dễ thực hiện.

LUẬT MINH KHÊU (Sưu tầm & Biên tập)