1. Sửa đổi, bổ sung các quy định về thời hạn tố tụng

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung các quy định về thời hạn tố tụng theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân là rất cần thiết và phù hợp; đồng thời, còn góp phần tích cực trong việc giải quyết vướng mắc do thực tiễn đặt ra, nhất là những hoạt động tố tụng chưa có quy định về thời hạn như giám định tư pháp, định giá tài sản... sẽ góp phần tích cực vào việc đẩy nhanh tiến độ điều tra các vụ án.

Thực tế cho thấy, việc tăng thêm thời hạn điều tra các vụ án ít nghiêm trọng của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là rất phù hợp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các cơ quan này trong việc điều tra các vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, rõ ràng. Bởi vì, cơ quan này là cơ quan phát hiện tội phạm nên việc thu thập ngay các tài liệu, chứng cứ, chứng minh tội phạm sẽ rất thuận lợi và kịp thời, rút ngắn được thời gian điều tra xử lý, giảm bớt áp lực cho Cơ quan điều tra chuyên trách đối với các vụ án ít nghiêm trọng, thực hiện theo thủ tục rút gọn.

- Việc rút ngắn thời gian tạm giam cũng là phù hợp, xong khi vận dụng cần chấp hành nghiêm các quy định nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác điều tra xử lý tội phạm và bảo đảm quyền con người và quyền công dân một cách hài hòa và tránh bị lạm dụng.

2. Thời hạn điều tra

Thời hạn điều tra là khoảng thời gian luật định mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền được tiến hành điều tra đối với một vụ án hình sự. Hết thời hạn điều tra quy định tại điều này, Cơ quan điều tra phải ra các văn bản tố tụng nhất định.

Thời hạn điều tra được quy định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hay nói cách khác, căn cứ vào sự phân loại tội phạm. Tội phạm càng nghiêm trọng thì thời hạn điều tra càng dài và ngược lại.

Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Thời hạn điều tra vụ án hình sự là không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 đối với tội phạm nghiêm trọng, đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn này là không quá 04 tháng.

Trường hợp vụ án có tính chất phức tạp thì có thể gia hạn điều tra. Thời hạn gia hạn điều tra cũng được quy định dựa trên sự phân loại tội phạm, cụ thể:

  • Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mồi lần không quá 04 tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mồi lần không quá 04 tháng.

Trường hợp đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, luật quy định thêm việc gia hạn điều tra đối với loại tội này. Điều kiện để tiếp tục gia hạn điều tra khi hết thời hạn quy định tại khoản 2 đã đề cập ở trên là "tính chất phức tạp cùa vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra" thì vụ án được gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Ngoài ra, đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì thời hạn điều tra được gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

3. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

- Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

4. Thời hạn tạm giam để điều tra

So với BLTTHS 2003, thời hạn tạm giam để điều tra của BLTTHS 2015 rút ngắn thời hạn tạm giam 1 tháng đối với tội ít nghiêm trọng; 2 tháng đối với tội rất nghiêm trọng.

Theo Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định nh­ư sau:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

Theo Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

5. Thời hạn giám định tư pháp, định giá tài sản

Kết luận giám định được quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, trong Điều luật này không quy định cụ thể về thời hạn ra kết luận giám định.

Vấn đề thời hạn giám định tư pháp, định giá tài sản cần được xem xét, bổ sung vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung, các vụ án kinh tế, tham nhũng nói riêng cho thấy, do chưa có quy định cụ thể về thời hạn ra kết luận giám định, kết luận định giá tài sản dẫn đến việc giám định, định giá tài sản trong nhiều trường hợp mang tính hành chính, kéo dài; chất lượng kết luận giám định trong một số vụ án chưa chặt chẽ, còn chung chung, không trả lời cụ thể câu hỏi của cơ quan trưng cầu giám định, khiến cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong quá trình điều tra, xử lý vụ án, làm hạn chế kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm (trong 17 vụ án kinh tế, tham nhũng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang thụ lý, có đến 10 vụ án có vướng mắc về giám định).

Thứ hai, lực lượng giám định tư pháp còn phân tán theo bộ, ngành, địa phương, số giám định viên chủ yếu được trưng tập khi có yêu cầu. Khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định thì các bộ, ngành, địa phương mới tìm, phân công giám định viên để thực hiện, quá trình đó thường không kịp thời, dẫn đến thời gian giám định kéo dài, làm chậm quá trình giải quyết vụ án. Ví dụ: Vụ buôn lậu xảy ra tại tàu Vinalines Pioneer kéo dài hơn 10 tháng mới có kết luận giám định.

Theo Điều 208, 216 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: đã quy định cụ thể thời hạn giám định tư pháp, định giá tài sản:

Điều 208. Thời hạn giám định

1. Thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:

a) Không quá 03 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 206 của Bộ luật này;

b) Không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 206 của Bộ luật này;

c) Không quá 09 ngày đối với trường hợp quy định tại các khoản 2, 4 và 5 Điều 206 của Bộ luật này.

2. Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định.

3. Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định.

4. Thời hạn giám định quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.

Điều 216. Thời hạn định giá tài sản

Việc định giá tài sản, trả kết luận định giá tài sản thực hiện theo thời hạn nêu trong văn bản yêu cầu định giá tài sản. Trường hợp việc định giá tài sản không thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu, Hội đồng định giá tài sản phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan, người đã yêu cầu định giá biết.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)