1. Mô hình của Nghị viện trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có hai mô hình Nghị viện: chế độ nghị viện một viện và chế độ nghị viện hai viện. Một số nước tiêu biểu cho chế độ nghị viện hai viện bao gồm Anh, Hoa Kỳ, Canada, Brazil, Cộng hòa Séc... Các nước khác xây dựng mô hình Nghị viện một viện như Trung Quốc, Thụy Điển, Bungari, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Costa Rica, Cu-ba... Các nhà nước liên bang thường áp dụng chế độ nghị viện hai viện. Nhà nước đơn nhất thường thiết lập chế độ nghị viện một viện. Tuy nhiên, một số nhà nước đơn nhất có Nghị viện hai viện như Malaysia, Tây Ban Nha, Thái Lan, Nhật Bản… và cũng có quốc gia như Các tiểu vương quốc Ả rập là nhà nước liên bang nhưng tổ chức theo mô hình Nghị viện một viện.

Theo số liệu thống kê của Liên minh Nghị viện trên thế giới, trong số hơn 190 quốc gia trên thế giới, có 77 quốc gia (chiếm tỷ lệ 40,1%) thành lập  Nghị viện hai viện; còn lại có 115 quốc gia lựa chọn hình thành Nghị viện một viện (chiếm tỷ lệ 59.9%). Đặc biệt có quốc gia như Đan Mạch chuyển từ mô hình Nghị viện hai viện sang mô hình Nghị viện một viện từ năm 1953. Tunisia chuyển đổi mô hình Nghị viện một viện sang chế độ hai Nghị viện, thành lập cơ quan Hạ Nghị viện vào năm 2005.  Trong mô hình tổ chức Nghị viện hai viện ở một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan… thì hai viện thường được đặt tên là Hạ viện và Thượng viện. Trong đó, Hạ viện đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do toàn thể cử tri cả nước bầu ra, còn Thượng viện đại diện cho ý chí của các bang (đơn vị hành chính cấp tỉnh) và Thượng nghị sĩ thường do các bang (đơn vị hành chính cấp tỉnh) bầu và cử ra.

2. Cấu trúc cơ bản của cơ quan giúp việc của Nghị viện

Các công trình nghiên cứu về mô hình tổ chức Nghị viện và cơ quan giúp việc Nghị viện cho thấy, thiết kế tổ chức của bộ máy hành chính Nghị viện là kết quả của các yếu tố: chính trị; lịch sử; và quan điểm chiến lược của cơ quan lập pháp đối với cơ quan hành pháp238. Do vậy, việc sắp xếp cơ cấu tổ chức luôn không tuân theo một con đường nhất quán. Yếu tố linh hoạt về mặt cấu trúc luôn xuất hiện như là vấn đề cơ bản đối với sự phức tạp về mặt tổ chức của Nghị viện. Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có nhiều cách thức cấu trúc bộ máy cơ quan giúp việc của Nghị viện khác nhau. - Dựa trên tiêu chí các lĩnh vực hỗ trợ, bộ máy giúp việc của Nghị viện có thể được thiết kế bao gồm: bộ phận hỗ trợ về mặt hành chính; bộ phận hỗ trợ về hậu cần, kỹ thuật và bộ phận nghiên cứu hỗ trợ về thông tin chính sách.

Bộ phận hỗ trợ về mặt hành chính thực hiện hoạt động trợ giúp hành chính thuần túy bao gồm: ghi chép biên bản, chuẩn bị tài liệu cho các phiên họp; thực hiện hỗ trợ về mặt quy trình, thủ tục như gửi giấy mời, thông báo triệu tập…. Bộ phận hỗ trợ hậu cần, kỹ thuật đảm nhiệm các trợ giúp về mặt tài chính, máy móc, kỹ thuật… đảm bảo sự vận hành thông suốt và hiệu quả cho các hoạt động của Nghị viện.

Bộ phận hỗ trợ nghiên cứu thông thường là đội ngũ giúp việc có chuyên môn cao của Nghị viện. Đội ngũ này thực hiện các hoạt động chuyên môn như tìm kiếm thông tin, nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị và xây dựng các báo cáo…

- Dựa trên cơ cấu tổ chức của Nghị viện, cơ quan giúp việc được cấu trúc thành: bộ phận giúp việc cho lãnh đạo Nghị viện, bộ phận giúp việc chung cho Nghị viện, bộ phận giúp việc cho các ủy ban của Nghị viện và bộ phận giúp việc cho các cá nhân nghị sĩ.

Bộ phận giúp việc chung cho toàn thể Nghị viện thường đảm nhiệm vai trò trợ giúp trong các lĩnh vực hành chính và các vấn đề về kỹ thuật, đảm bảo các điều kiện cơ bản cho sự vận hành chung của Nghị viện. Bộ phận giúp việc cho lãnh đạo Nghị viện thường thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ để đảm bảo trách nhiệm của lãnh đạo Nghị viện trong việc điều hành các phiên họp và tổ chức các hoạt động của Nghị viện cũng như giải trình về những vấn đề có liên quan. Bộ phận giúp việc cho các Ủy ban hỗ trợ các uỷ ban trong việc tổ chức các hoạt động của Uỷ ban, hỗ trợ về quy trình, thủ tục, ghi biên bản các phiên họp, dự thảo các báo cáo trên cơ sở ý kiến của các thành viên của Uỷ ban. Bộ phận giúp việc cho nghị sĩ đảm nhiệm các hoạt động hỗ trợ cho cá nhân nghị sĩ trong việc thực hiện các nhiệm vụ dân biểu của mình như tham gia vào các hoạt động lập pháp, chất vấn các thành viên Chính phủ, giữ mối liên hệ với cử tri… Tuy nhiên, việc phân loại các cấu trúc cơ bản dựa trên những tiêu chí nói trên chỉ mang tính chất nghiên cứu lý thuyết. Do vậy, nó không phản ánh hết thực tiễn phong phú, đa dạng cũng như tính chất phức tạp của các bộ phận hỗ trợ trong cơ quan giúp việc Nghị viện. Để hiểu rõ về chức năng, nhiệm vụ cũng như cơ chế vận hành của bộ máy giúp việc Nghị viện, việc đi sâu tìm hiểu về các thiết chế của cơ quan giúp việc dưới đây mang ý nghĩa hết sức quan trọng.

3. Bộ phận giúp việc của các ủy ban trong nghị viện

Trong bộ máy giúp việc của Nghị viện, các ủy ban của Nghị viện thường nhận được sự hỗ trợ từ nhiều bộ phận khác nhau. Về cơ bản, các bộ phận này bao gồm:

(1) Bộ phận giúp việc trực tiếp gồm các chuyên viên giúp việc một cách trực tiếp và chuyên biệt cho ủy ban;

(2) Bộ phận giúp việc chung của Nghị viện gồm các chuyên viên hỗ trợ cho công việc của ủy ban mỗi khi có yêu cầu. Chẳng hạn như các chuyên viên chuyên cung cấp các dịch vụ thông tin, nghiên cứu;

(3) Bộ phận giúp việc của cá nhân các thành viên của ủy ban hoặc các nhóm đảng trong ủy ban.

Các bộ phận này có sự phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên sự hỗ trợ hữu hiệu cho hoạt động của các ủy ban của Nghị viện. Tuy nhiên, ở từng Nghị viện khác nhau, vị trí của từng bộ phận có sự khác nhau nhất định. Chẳng hạn, ở Nghị viện Hoa Kỳ, cả ba bộ phận này đều được tổ chức một cách quy mô.

Ngoài bộ phận giúp việc trực tiếp của mỗi ủy ban (trung bình khoảng 65 người/1 ủy ban(10) còn có bộ phận Thư viện Quốc hội có quy mô lớn để cung cấp các phân tích, nghiên cứu cho ủy ban mỗi khi cần(11). Trong khi đó, ở Nghị viện một số nước khác, bộ phận giúp việc trực tiếp có quy mô rất nhỏ (thậm chí chỉ có 1-2 người) để giúp về công việc hành chính của Ủy ban là chủ yếu. Về các hoạt động chuyên môn, Ủy ban nhận được sự hỗ trợ từ bộ phận giúp việc chung như cơ quan nghiên cứu hoặc Thư viện Quốc hội. Cách thức tổ chức bộ phận giúp việc trực tiếp cho các Ủy ban cũng có sự khác biệt nhất định.

Có những Nghị viện, các bộ phận giúp việc trực tiếp này được tổ chức một cách tách biệt nhau, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các ủy ban như ở Hoa Kỳ. Nhưng ở đa số các Nghị viện khác, bộ phận giúp việc này được đặt trong một bộ phận chung giúp việc cho tất cả các Uỷ ban. Ví dụ, ở Hạ viện CHLB Đức, Vụ các ủy ban thuộc Ban thư ký Hạ viện có trách nhiệm giúp việc chung cho các uỷ ban. Tương tự, Cục nghiên cứu và điều tra ở Ban thư ký Hạ viện Nhật Bản, Vụ thư ký các uỷ ban của Ban thư ký Quốc hội Đan Mạch cũng được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ này. Việc các bộ phận giúp việc cho các ủy ban được đặt trong cùng một đơn vị sẽ giúp cho các bộ phận này có sự liên kết chặt chẽ với nhau và có thể chia sẻ lẫn nhau về thông tin, kiến thức, kĩ năng làm việc. Hơn thế nữa, trong những thời điểm khác nhau sẽ có sự chia sẻ công việc lẫn nhau tránh trường hợp có những bộ phận quá bận rộn trong khi có những bộ phận lại rảnh rỗi. Thông thường, các ủy ban có 03 mảng công việc cần được hỗ trợ gồm:

(1) các công việc hành chính (như tổ chức các cuộc họp, đặt phòng họp, công văn giấy tờ v.v…);

(2) các công việc chuyên môn (như nghiên cứu, xây dựng, chỉnh lý các chính sách);

(3) soạn thảo các văn bản (như dự thảo các báo cáo, biên bản v.v..)

Như đã đề cập ở phần trên, có những Nghị viện bộ phận giúp việc trực tiếp sẽ thực hiện cả ba mảng công việc này (như ở Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp …), nhưng cũng có những trường hợp bộ phận giúp việc trực tiếp chỉ tập trung vào việc thực hiện trợ giúp về mặt hành chính (như Argentina, Bồ Đào Nha, Thượng viện Anh …) còn những công việc về mặt chuyên môn thì có sự hỗ trợ của Thư viện Quốc hội hoặc cơ quan nghiên cứu của Nghị viện.

Các ủy ban thường cần nhiều loại nhân viên khác nhau để đạt được hiệu quả công việc tốt nhất. Các ủy ban của Nghị viện thường cần nhân viên để hỗ trợ về các vấn đề về thủ tục, các vấn đề hành chính, hỗ trợ trong việc soạn thảo luật, và cung cấp các ý kiến chuyên gia và các phân tích về các chính sách nổi bật. Họ cũng cần các thư ký, các nghiên cứu viên, soạn thảo văn bản pháp lý và các nhân viên hỗ trợ khác. Các thư ký của Ủy ban đưa ra các tư vấn về thủ tục cho ủy ban; chuẩn bị tài liệu, ghi biên bản trong các cuộc họp của ủy ban; thay mặt cho ủy ban nhận và lưu trữ các tài liệu liên quan và thực hiện các nhiệm vụ hành chính khác. Họ cũng hỗ trợ trong việc lưu trữ hồ sơ và tư vấn về thủ tục cho các thành viên khác. Người đứng đầu bộ phận thư ký cho một uỷ ban chịu trách nhiệm trong việc điều phối chung và bảo đảm rằng những người đứng đầu ủy ban và các thành viên của ủy ban có được sự hỗ trợ hiệu quả nhất. Các nhiệm vụ khác của nhân viên ủy ban gồm:

- Nghiên cứu: Nhân viên nghiên cứu thực hiện việc phân tích và chuẩn bị các báo cáo nghiên cứu, dự kiến các câu hỏi cho thành viên ủy ban. Chuyên viên nghiên cứu cũng giúp hoàn thiện hiệu quả của quy trình lập pháp bằng cách thu thập và phân tích các dữ liệu; họ xác định các vấn đề có liên quan cho các đại biểu; gợi ý các hoạt động phù hợp; chuẩn bị các nghiên cứu và các báo cáo của ủy ban trong lĩnh vực lập pháp.

- Tiếp cận cộng đồng: Tạo điều kiện và gia tăng sự tham gia của công chúng, các chuyên gia trong các yêu cầu của ủy ban thông qua các buổi điều trần, tọa đàm, hội thảo, diễn đàn và các cuộc khảo sát.

Về công tác tuyển dụng nhân viên hỗ trợ cho các uỷ ban, nhìn chung, ở các nước việc tuyển dụng các chuyên viên giúp việc cho ủy ban được thực hiện tương tự như đối với các chuyên viên giúp việc ở các bộ phận khác. Chẳng hạn như ở Hạ viện Nhật Bản, việc tuyển dụng các chuyên viên giúp việc cho các Ủy ban sẽ do Ban thư ký thực hiện trong một kỳ thi tuyển chung. Sau đó, các chuyên viên sẽ được bố trí vào các Phòng trong Cục nghiên cứu và điều tra.

Trong hai năm đầu tiên, các chuyên viên mới được tuyển dụng sẽ được luân chuyển giữa các đơn vị trong Ban thư ký để nắm bắt được các công việc của Ban thư ký một cách toàn diện. Sau khi tìm được vị trí phù hợp, các chuyên viên sẽ thực hiện công việc một cách ổn định và chuyên sâu. Tuy nhiên, ở một số nước, bản thân các ủy ban có vai trò khá lớn trong việc tuyển dụng các chuyên viên giúp việc cho mình. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, các ủy ban được cấp ngân sách để tuyển dụng các chuyên viên.

Theo quy định của Nội quy Hạ viện, các ủy ban có thể tuyển dụng một số lượng chuyên viên giúp việc hành chính và chuyên môn nhất định. Riêng hai ủy ban là Ủy ban Phân bổ và Ủy ban Ngân sách có thể tuyển dụng các chuyên viên giúp việc trong phạm vi cần thiết miễn là được phê duyệt ngân sách(12) (Xem thêm Phụ lục về các chuyên viên giúp việc của các uỷ ban của Nghị viện).

Quy mô của bộ phận giúp việc trực tiếp của các ủy ban của Nghị viện các nước trên thế giới rất khác nhau, phụ thuộc vào tầm quan trọng của các ủy ban trong Nghị viện của nước đó. Ở Nghị viện Hoa Kỳ, các ủy ban của Nghị viện có vai trò trung tâm trong quá trình tổ chức công việc của Nghị viện. Do vậy, các ủy ban có bộ phận giúp việc khá lớn. Theo quy định của pháp luật, mỗi ủy ban ở đây có thể tuyển dụng 18 chuyên viên giúp việc về chuyên môn và 12 chuyên viên giúp việc về hành chính(13). Tuy nhiên, trên thực tế thì số lượng trung bình các chuyên viên giúp việc của ủy ban ở Hạ viện Hoa Kỳ lên đến 65 người. Trong khi đó, ở Nghị viện những nước như Anh, Canada… hệ thống ủy ban có vai trò không lớn. Do vậy, số lượng các chuyên viên giúp việc trực tiếp của mỗi ủy ban là không nhiều. Chẳng hạn như ở Hạ viện Anh, bộ phận giúp việc trực tiếp cho mỗi Ủy ban chỉ có khoảng 6 đến 7 cán bộ (2 thư ký, 1 đến 2 chuyên gia, 2 nhân viên hành chính, 1 người làm truyền thông). Ở Hạ viện Canada, mỗi ủy ban chỉ có 01 chuyên viên giúp việc về mặt hành chính và có một vài chuyên gia giúp việc về mặt phân tích các vấn đề về chính sách.

4. Bộ phận giúp việc của cá nhân các nghị sĩ và các nhóm Đảng

Các chuyên viên giúp việc của cá nhân các nghị sĩ và các nhóm đảng cũng thường được xem là một bộ phận giúp việc của Nghị viện. Khác với các chuyên viên ở bộ phận khác, các chuyên viên này không phải chịu các giới hạn về tính trung lập, phi đảng phái. Nhiệm vụ chính của các chuyên viên giúp việc của cá nhân nghị sĩ là hỗ trợ cá nhân nghị sĩ trong việc thực hiện các công việc của nghị sĩ như tham gia vào các hoạt động lập pháp, chất vấn thành viên Chính phủ, giữ mối liên hệ với cử tri. Trong khi các chuyên viên làm việc tại Nghị viện yêu cầu phải công tâm, khách quan thì các trợ lý riêng lại được yêu cầu “phải phục tùng”. Trong khi các chuyên viên bình thường phải phục vụ tất cả các nghị sĩ một cách bình đẳng thì các trợ lý riêng phải phục vụ những lợi ích sâu xa cho các nghị sĩ của mình.

Không giống như các chuyên viên giúp việc chung ở Ban Thư ký Nghị viện, hay chuyên viên giúp việc cho các Ủy ban, chuyên viên giúp cho cá nhân nghị sĩ có thể làm việc tại Nghị viện hoặc làm việc tại văn phòng trụ sở nơi nghị sĩ là đại diện. Ở Nghị viện Philippines, Văn phòng phục vụ nghị sĩ được đặt tại trụ sở Nghị viện và tại đơn vị bầu cử nghị sĩ. Các văn phòng đặt tại khu vực bầu cử có nhiệm vụ chính là giúp nghị sĩ giữ mối liên hệ với cử tri và thu thập ý kiến, kiến nghị của cử tri, giúp nghị sĩ trong việc lập chương trình làm việc, thu thập và xử lý thông tin phục vụ hoạt động của nghị sĩ. Văn phòng phục vụ nghị sĩ đặt tại trụ sở Nghị viện thường có 6 viên chức biên chế chính thức.

Các nghị sĩ có quyền tuyển dụng thêm nhân viên làm việc theo hợp đồng khi cần thiết. Thông thường Văn phòng giúp việc nghị sĩ có Chánh văn phòng, viên chức giúp việc hành chính, viên chức giúp việc về lập pháp, ngoài ra, nghị sĩ còn có một nhân viên dịch vụ kỹ thuật – lái xe và 2 trợ lý về vấn đề chính trị, sắp xếp các cuộc gọi, bố trí các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc của nghị sĩ. Cán bộ làm việc tại Văn phòng nghị sĩ do nghị sĩ lựa chọn trên cơ sở các tiêu chuẩn do Ban Thư ký quy định. Tiền lương của cán bộ văn phòng nghị sĩ được Ban Thư ký cấp và nhận lương thông qua Ban Thư ký (nghị sĩ không trực tiếp trả lương)(14). Ở Phần Lan, mỗi nghị sĩ được quyền có một trợ lý giúp việc. Các trợ lý do văn phòng Nghị viện tuyển dụng trong một khoảng thời gian cụ thể. Các nhân viên này có thể làm việc tại Tòa nhà Quốc hội hoặc tại nơi nghị sĩ trúng cử.

Ở Hạ viện Anh, có một số lượng lớn các nhân viên giúp việc cho các nhóm đảng và các nghị sĩ. Có khoảng 6 nhân viên cho mỗi nhóm đảng trong Nghị viện ở Văn phòng Phụ trách công tác Đảng ở Hạ viện, và một số lượng lớn hơn làm việc tại văn phòng của lãnh đạo phe đối lập. Các đảng đối lập cũng được cung cấp một khoản hỗ trợ hàng năm để thực hiện các dịch vụ ở Nghị viện. Thông thường, ở Nghị viện các nước, cá nhân các nghị sĩ được quyền lựa chọn cho mình những chuyên viên giúp việc cá nhân này. Tuy nhiên, việc quản lý về mặt hành chính, ký hợp đồng lao động, nhận tiền lương sẽ được thực hiện qua bộ máy của Ban Thư ký Nghị viện. Có Nghị viện, bộ phận giúp việc cho nghị sĩ và các nhóm đảng nằm trong cơ cấu tổ chức của Ban Thư ký/Văn phòng Quốc hội. Tuy nhiên, ở một số nước khác, đây là bộ phận độc lập và do cá nhân nghị sĩ tự lựa chọn theo yêu cầu công việc của mình.

Trái ngược với một số Nghị viện khác, Hạ viện Anh không cung cấp dịch vụ thư ký cho các cá nhân đại biểu mà chỉ cung cấp các dịch vụ nghiên cứu chính thức có sẵn tại Thư viện tới tất cả các đại biểu. Thay vào đó, các cá nhân đại biểu được hưởng khoản phụ cấp (hiện tại là khoảng 137.200 bảng Anh cho các nghị sĩ không cư trú ở London và khoảng 144.000 bảng cho các nghị sĩ khu vực London một năm) để các đại biểu có thể chi trả cho các chi phí văn phòng, thư ký và hỗ trợ nghiên cứu. Các nghị sĩ phải tự tìm kiếm và thuê nhân viên và tự xác định mức phí phải trả, số giờ làm việc, điều kiện làm việc và các công việc hàng ngày. Thanh toán thực tế có thể được thực hiện bởi bộ phận tài chính của ban thư ký Hạ Viện nếu đại biểu có yêu cầu. Chính xuất phát từ tính tự chủ cao trong việc thuê nhân viên giúp việc nên ở Nghị viện Anh có sự đa dạng trong cách thức và mức độ các nghị sĩ sử dụng lợi ích này.

Một số đại biểu có thư ký chuyên trách nhưng không có trợ lý nghiên cứu, một số đại biểu khác chia sẻ thư ký và trợ lý nghiên cứu với nghị sĩ khác; có nghị sĩ sử dụng nhân viên tại nơi họ trúng cử, có nghị sĩ lại làm việc tại Nghị viện và sử dụng các dịch vụ, thiết bị của Nghị viện… Thực tế, ở Nghị viện Anh, có nhân viên làm việc giúp đại biểu với thời gian vài năm, tuy nhiên, cũng có những người chỉ làm trong thời gian ngắn. Đây là một hệ thống cho phép thực hiện các cách thức sử dụng nhân viên đa dạng trong giới hạn khoản phụ cấp đã được quy định(15). Các nghị sĩ của Nghị viện Đức cũng được quyền thuê các nhân viên riêng cho mình (khoảng 14.712 euro/1 tháng). Hiện nay, ở Nghị viện Đức có khoảng 4.500 nhân viên được các nghị sĩ trực tiếp thuê, trong đó có nhiều người làm việc bán thời gian, và có khoảng 50% làm việc tại Nghị viện và khoảng 50% nhân viên làm việc tại văn phòng của nghị sĩ. Các nhóm đảng chính trị trong Nghị viện hiện nay cũng thuê khoảng 800 nhân viên, được trả lương bằng ngân sách của Liên bang.

5. Chức năng của Nghị viện

Nghị viện các nước đều có một số chức năng chung như chức năng lập pháp, chức năng giám sát, chức năng liên quan đến vấn đề tài chính - ngân sách, nhưng phạm vi, mức độ của các chức năng này là khác nhau ở các nước khác nhau. Nguyên nhân bắt nguồn từ các nước có các đặc điểm khác nhau về mô hình chính thể, hệ thống bầu cử, mỗi quan hệ giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; các đảng phái……

5.1. Chức năng lập pháp

Như đã phân tích ở trên, chức năng lập pháp là chức năng cơ bản của Nghị viện. Hiến pháp của đa số các nước trên thế giới đều quy định Nghị viện có quyền thông qua luật. Ví dụ Khoản 1 Điều 34 Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 quy định: “Luật do Nghị viện thông qua”.  Như vậy, chức năng lập pháp của Nghị viện không có nghĩa Nghị viện thực hiện tất cả các công việc trong quy trình lập pháp. Thực tiễn lập pháp của nhiều nước trên thế giới cho thấy Chính phủ có quyền đưa ra sáng kiến lập pháp và soạn thảo dự án luật trình Nghị viện thông qua và quyền công bố luật được trao cho người đứng đầu nhà nước (Chủ tịch nước, Tổng thống).
Dự thảo luật chỉ trở thành luật khi được Nghị viện xem xét thông qua; không có sự thông qua của Nghị viện thì không có các đạo luật. Hiến pháp của Nhật Bản quy định rõ vấn đề này tại Điều 59 như sau: “Dự thảo luật sẽ trở thành luật nếu được cả hai Viện thông qua trừ những trường hợp đặc biệt được ghi trong Hiến pháp.

Nếu Thượng Nghị Viện không đồng ý với một dự thảo luật mà Hạ Nghị Viện đã thông qua thì văn kiện đó sẽ trở thành đạo luật nếu Hạ nghị viện biểu quyết lần thứ hai với đa số 2/3 đại biểu có mặt thông qua.”

5.2. Chức năng liên quan đến tài chính - ngân sách

Đối với chức năng này, Nghị viện có quyền thông qua ngân sách, phân bổ ngân sách, phê chuẩn quyết toán ngân sách và quyền quy định các thứ thuế. Việc thông qua ngân sách, phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách là một hình thức giúp nghị viện kiểm soát hoạt động của chính phủ. Ngân sách của đa số các nước trên thế giới được thông qua dưới dạng văn bản luật có hiệu lực trong một năm, trong đó liệt kê toàn bộ các khoản thu, chi. Trên cơ quy định của luật, Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thu, chi ngân sách. Ở Anh, Mỹ, Nhật Bản và một số nước khác, ngân sách nhà nước là một chương trình thu chi tài chính, chương trình này được thực hiện thông qua việc ban hành các đạo luật về thu, chi.

Thủ tục nghị viện tiến hành phê chuẩn quyết toán ngân sách được Hiến pháp các nước quy định theo các cách khác nhau. Thí dụ, theo Khoản 1, Điều 90, Hiến pháp Nhật Bản: “quyết toán hàng năm về các khoản thu, chi ngân sách nhà nước do nội các trình nghị viện phê chuẩn cùng bản báo cáo của hội đồng thanh tra về việc thực hiện ngân sách trong năm”. Hàn quốc quy định về vấn đề này tại Điều 54 Hiến pháp như sau: “(1) Quốc hội thảo luận và quyết định về dự luật ngân sách quốc gia. (2) Cơ quan Hành pháp soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Quốc hội trong thời hạn chín mươi ngày trước ngày bắt đầu của năm tài chính mới. Quốc hội quyết định về dự luật ngân sách quốc gia trong vòng ba mươi ngày trước ngày bắt đầu năm tài chính mới.”

Ngoài ra, các nước cũng quy định về việc sửa đổi dự toán Ngân sách do Chính phủ trình theo đó quy định về việc Nghị viện có thẩm quyền tăng số tiền cho các khoản chi hay giảm chi, có được quyền thay đổi dự toán ngân sách hay không. Ở Hàn Quốc, vấn đề này được quy định tại Điều 56, 57như sau: “Khi cần thiết phải sửa đổi ngân sách, Cơ quan Hành pháp có thể xây dựng một dự luật ngân sách bổ sung sửa đổi và đệ trình Quốc hội; Khi không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp, Quốc hội sẽ không được tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào cũng như không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong ngân sách đã được Cơ quan Hành pháp đệ trình”

5.3. Chức năng giám sát

Nghị viện của các nước có quyền giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp. Ngoài ra trong một số trường hợp đối tượng giám sát của Nghị viện có thể là người đứng dầu nhà nước, cơ quan tư pháp, cơ quan tự quản địa phương và một số cơ quan nhà nước khác. Tuỳ theo quy định của pháp luật, ở các nước, mức độ giám sát và phạm vi đối tượng giám sát của nghị viện là khác nhau. Các hình thức giám sát phổ biến là chất vấn, các phiên giải trình, thành lập cơ quan điều tra, điều trần tại ủy ban, điều trần tại các phiên họp toàn thể của Nghị viện, thanh tra Quốc hội và bỏ phiếu bất tín nhiệm.

5.4. Một số chức năng khác

Ngoài các chức năng nêu trên, các nước quy định Nghị viện có quyền tham gia thành lập Chính phủ và có quyền bãi nhiệm người đứng đầu Chính phủ. Ví dụ Điều 63 Hiến pháp Hàn Quốc quy định “Quốc hội có thể thông qua  đề nghị bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ hoặc thành viên Hội đồng Nhà nước”. Sự tham gia của Nghị viện trong việc thành lập Chính phủ. Đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc (Quốc hội Trung Quốc) có thẩm quyền bầu một số chức danh như Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng thời cũng có quyền bãi nhiệm các chức danh này (Điều  62, 63 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982)
Ngoài ra, Nghị viện còn có thẩm quyền đặc xá. Đại xá, đây là quyền của Nghị viện tuyên bố xoá tội cho một đối tượng nào đó.

Danh mục tài liệu tham khảo:

(1). Mauro Romanelli (2010), ‘Governance and Organization of Parliamentary Administrations’, Governance in Public and Non Profit Organizations: Mechanism for Innovation, (Bologna, 16-18 Giugno), tr. 2

(2). The Declaration on Parliamentary Openness was officially launched at the World e-Parliament Conference 2012 in Rome, Italy, on the International Day of Democracy, September 15, 2012.

(3). CPA, Recommended Benchmarks for Democratic Legislatures, §5.1.1; APF, La réalité démocratique des Parlements: Quels critères d’évaluation? §3.2.1.1.

(4). National Conference on State Legislatures (2009), NCSL Model Code of Conduct for Legislative Staff, 2009, Art. 1, Sec. I. Available at: http://www.ncsl.org/legislatures-elections/ legisdata/model-code-of-conduct-for-legislative-staff.aspx#a1. Accessed 6/14/2012.

(5). National Conference on State Legislatures, NCSL Model Code of Conduct for Legislative Staff, 2009, Art. 1, Sec. IV, No. 2.

(6). Office for the Promotion of Parliamentary Democracy (2012), Parliamentary Ethics: A Question of Trust. 2011. Available at: http://www.europarl.europa.eu/pdf/ oppd/Page_8/codes_of_conduct_FINAL-ENforweb.pdf. Accessed: 6/15/2012.