cũng như trong các lĩnh vực khác thì trong lĩnh vực luật lao động cũng tồn tại những hành vi cấm của pháp luật, tại bộ luật lao động 2019 có quy định cụ thể các hành vi cấm trong quan hệ lao động, bất kể người lao động hay là người sử dụng lao động đều không được thực hiện các hành vi được coi là trái pháp luật luật lao động nói riêng và pháp luật nói chung. 

Theo Bộ luật lao động năm 2019 thì các hành vi bị cấm trong lĩnh vực lao động bao gồm 

" 1. phân biệt đối xử trong lao động.

2. ngược đãi người lao động, cưỡng bức lao động

3. Quấy rối tình dục tại nơi làm việc

4. Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật

5. sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

6.Lôi kéo, dụ dỗ , hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm , hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật 

7. sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật."

 1. Hành vi phân biệt đối xử trong lao động 

hành vi phân biệt đối xử trong lao động là hành vi phân biệt đối xử giữa những người lao động dựa trên sự ưu tiên về màu da, sắc tộc, tôn giáo, giới tính, tình trạng thai sản, tín ngưỡng, hoặc ngay cả những trường hợp người trong tình trạng bệnh lây nhiễm như HIV ... và nhiều yếu tố khác dẫn đên sự phân biệt đối xử giữa những cá nhân này trong doanh nghiệp, tác động đến cơ hội việc làm, cơ hội thăng tiến... 

Hành vi phân biệt đối xử trong lao động được thực hiện bởi người sử dụng lao động với người lao động hoặc được thực hiện ngay cả giữa những người lao động với nhau trong môi trường lao động. Thông thường tại Việt Nam hiện nay tình trạng phân biệt đối xử giữa các lao động được xuất phát nhiều từ nguyên nhân vùng miền, giới tính, độ tuổi... các hành vi phân biệt đối xử này được thể hiện thông qua lời nói và hành động. Cụ thể như nhiều xí nghiệp trong các tỉnh phía nam như Sài Gòn, Bình Dương... đã không tuyển dụng lao động là người thuộc các tỉnh Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh hay là sự phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ. Chính những hành vi phân biệt đối xử như thế này đã tạo nên một môi trường lao động không hài hòa, xảy ra nhiều mâu thuẫn, khiến cho quan hệ lao động không thể gắn bó một cách lâu dài được. 

bởi vậy đây là hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động. 

2. Hành vi ngưỡng đãi, cưỡng bức người lao động

Ngược đãi là hành vi làm haị hay kiểm soát người khác. Ngược đãi có rất nhiều hình thức, ngược đãi bằng lời nói, về cơ thể hoặc cảm xúc  và các hình thức ngược đãi này đều để lại những tổn thương về thể xác và tâm lý cho nạn nhân.  Trong quan hệ lao động thì người lao động thường là yếu tố có thể bị ngược đãi 

Căn cứ theo khoản 2 điều 8 Bộ luật lao động 2019 thì hành vi ngược đãi, cưỡng bức người lao động là hành vi bị pháp luật cấm. Khi bị ngược đãi các cá nhân có nghĩa vụ tố cáo với các cơ quan có thẩm quyền

Tại khoản 1 điều 2 công ước số 29 xác định như sau: lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc làm một côn việc nào đó hoặc dịch vụ mà người bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm.

dấu hiệu nhận biết lao động cưỡng bức bao gồm: lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động, lừa gạt, hạn chế đi lại, cô lập, bạo lực thân thể và tình dục, dọa nạt, đe dọa; giữ giấy tờ tùy thân; giữ tiền lương, lệ thuộc vì nợ; điều kiện sống và làm việc bị lạm dụng; làm thêm giờ quá quy định

người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, cưỡng bức lao động có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính đối với hành vi của mình. 

3. Hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là những hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó chấp thuận hoặc mong muốn. Nơi làm việc được hiểu là bất kì nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận phân công trong hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Quấy rối tình dục ở mức độ cao có thể trở thành hành vi ngược đãi đối với người lao động, hoặc trở thành hành vi cấu thành tội phạm.

bên cạnh đó khoản 1  điều 84 nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định về quấy rối tình dục tại nơi làm việc như sau:

" Điều 84: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc

1.Quấy rối tình dục quy định tại khoản 9 điều 3 bộ luật lao động có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy  bất kì lợi ích nào liên quan đến công việc; hoặc những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất , tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối."

Quấy rối tình dục tại nơi làm việc bao gồm các hành vi như sau:

- Hành vi mang tính thể chất bao gồm: cử chỉm tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục

- Quấy rối tình dục bằng lời nói gồm lời nói trực tiếp, qua điện thoại, hoặc phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc ngụ ý tình dục

- Quấy rối tình dục phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể; trưng bày, miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử

 

4.  lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề đê trục lợi

Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ dỗ ép buộc người học nghề người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật.

Dạy nghề tập nghề là hoạt động mà người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc, hoặc để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vị trí tại nơi làm việc căn cứ theo khoản 1 khoản 2 điều 61 bộ luật lao động 2019. Hoạt động này mang tính chất vô cùng đặc biệt vì là hoạt động đào tạo có lợi cho người học nghề, tập nghề nhưng đồng thời người lao động cũng có thể bị lợi dụng học nghề , tập nghề để bị ép buộc , dụ dỗ, lừa người học nghề , tập nghề tham gia những việc bất hợp pháp bởi những người học nghề, tập nghề đều là những người có ít kinh nghiệm trong công việc, nên đây là điểm yếu để cho những cá nhân tổ chức dậy nghề có thể lợi dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật của mình. 

5. sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia .

Có rất nhiều công việc đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề nghiệp, được chứng thực bằng các chứng chỉ chuyên môn, kỹ năng, các công việc đó là công việc đặc biệt mệt nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc công việc được thực hiện ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng hoặc sức khỏe của người khác. Vì vậy nếu người lao động chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề , công việc đó thì có thể gây nguy hại cho bản thân người lao động và người khác trong quá trình người lao động thực hiện. 

6. Dùng các hành vi để lừa gạt người lao động để thực hiện mục đích xấu 

Dùng các hành vi lừa gạt đề tuyển người lao động với mục đích bán người bóc lột cưỡng bức người lao động, hoặc lợi dụng dich vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động để thực hiện hành vi trái pháp luật

Hành vi mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động, lừa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật đều là các hành vi khách quan và có khả năng cấu thành tội phạm. Những hành vi như lôi kéo, dụ dỗ hứa hẹn, quảng cáo gian dối và dùng thủ đoạn khác để lừa gạt thì đều là những hành vi trái với nguyên tắc tự nguyện, trung thực khi giao kết hợp đồng, làm ảnh hưởng nặng nề đến quyền của người lao đông cho nên các hành vi này đều bị cấm

7. Hành vi sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật

người lao động chưa thành niên là những người lao động chưa đủ 18 tuổi. Lao động chưa thành niên hay còn được gọi là lao động vị thành niên. Trong độ tuoir dưới 18 tuổi, con người chưa được phát triển đầy đủ về thể lực và nhận thức nên pháp luật hầu hết các nước đều có những quy định để bảo vệ người lao động chưa thành niên một cách hợp lý. Tổ chức lao động quốc tế ( ILO) có tới 6 công ước riêng quy định trực tiếp về vấn đề này và nhiều công ước có liên quan.

Bộ luật lao động năm 2019 dành một mục riêng để áp dụng cho lao động chưa thành niên, nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên, cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số ngành nghề mà pháp luật cho phép và cha mẹ đỡ đầu của họ đồng ý; cấm sử dụng lao động chưa thành niên vào làm những công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm có gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc nhân cách của họ.

Người lao động chưa thành niên có thêt họ chưa nhận thức được bản thân đang bị lợi dụng do vạy các hành vi này càng ngày càng trở nên nguy hiểm hơn.

Như vậy, các hành vi bị cấm trong lĩnh vực lao động đều là các hành vi làm ảnh hưởng lớn đến quan hệ lao động và đặc biệt là người lao động. Những hành vi này ở một mức độ lớn có thể trở thành hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm, do đó người lao động và người sử dụng lao động cần tránh thực hiện các hành vi này.