1. Chuyển tải hồn cốt của hiến pháp
Các nguyên tắc của hiến pháp định hướng cho các quyết định và hành động của thể chế chính phủ, các thành viên nhánh hành pháp và lập pháp, giúp cho các thẩm phán có thể giải thích hiến pháp. Về bản chất, hiến pháp không thể mang lại mọi quy định chi tiết cho mọi tranh chấp hoặc vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi. Do vậy, đôi khi các nguyên tắc chung là căn cứ duy nhất để hiểu các yêu cầu và đòi hỏi của hiến pháp trong một trường hợp cụ thể. Thêm vào đó, ngôn ngữ hiến pháp trừu tượng hoặc sự thiếu vắng những chỉ dẫn về một vấn đề nhất định nào đó là đặc tính của hiến pháp. Tính chất mơ hồ có thể là do các nhà lập hiến không đạt được sự thống nhất, và để quá trình xây dựng hiến pháp không bị trì hoãn, đã lựa chọn cách để lại một số vấn đề còn gây tranh cãi cho những người thực thi hiến pháp. Khi hiến pháp không rõ ràng về một vấn đề cụ thể nào đó, các nguyên tắc của hiến pháp sẽ là nguồn chính để định hướng các quyết định sau này. Các nguyên tắc, dù có được viết ra hay không, đều định hướng cách thức để tòa án và chính phủ phản ứng trước các vấn đề không lường trước hoặc không được ghi nhận cụ thể trong hiến pháp. Một ví dụ về ý nghĩa của các nguyên tắc khi không có các chỉ dẫn cụ thể là trường hợp của Canada, khi mà Tòa án Tối cao nước này dựa vào các nguyên tắc của hiến pháp để giải quyết tình huống về khả năng tách khỏi liên bang của Quebec.
2. Các nguyên tắc hiến định tạo nền tảng để xây dựng Chính phủ hiệu quả
Hiến pháp không thể có các quy định chi tiết cho từng tình huống tranh chấp hoặc vấn đề nổi lên trong quá trình thực thi hiến pháp. Đôi khi các nguyên tắc chung là cơ sở duy nhất để nắm bắt được những yêu cầu của hiến pháp trong một tình huống cụ thể. Bởi vì, hiến pháp không đề cập đến nội dung ly khai một cách rõ ràng, Tòa đã phân tích Hiến pháp và tìm thấy bốn nguyên tắc nền tảng của hiến pháp, mặc dù là bất thành văn là: chủ nghĩa liên bang, nền dân chủ, pháp quyền và tôn trọng nhóm thiểu số. Tòa khẳng định rằng các nguyên tắc này “không chỉ mang tính mô tả, mà… còn có có hiệu lực điều chỉnh mạnh, cả tòa và chính phủ đều phải tuân thủ”. Theo cách phân tích đó, Tòa thấy rằng, mặc dù việc đơn phương lý khai không được ghi nhận trong hiến pháp, các nguyên tắc cho thấy chính quyền liên bang và tỉnh phải thương lượng nếu công dân của Quebec ủng hộ việc ly khai. Một ví dụ nữa cho sự phụ thuộc vào các nguyên tắc hiến pháp trong việc giải quyết những vấn đề tranh chấp là Tòa Hiến pháp Nam Phi, trong việc đưa ra một quyết định quan trọng cấm án tử hình, đã viện dẫn đến và dựa vào nguyên tắc ubuntu. Ubuntu là một khái niệm triết học về sự tồn tại và mối quan hệ tương tác giữa con người với nhau. Nó là định hướng cho sự phát triển chính trị quốc gia và là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận chính trị, bao gồm những tranh luận về hòa hợp dân tộc và mối quan hệ lao động Mặc dù Hiến pháp hiện hành không đề cập rõ ràng về câu hỏi tại sao án tử hình lại bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, nó cũng thể hiện nguyên tắc ubuntu trong phần kết luận, định hướng quyết định của Tòa về vấn đề này: án tử hình không phủ hợp với nguyên tắc ubutun và trái hiến pháp. Do đó, nguyên tắc trên trở thành công cụ quan trọng để hiểu ý nghĩa của hiến pháp đối với một vấn đề khó khăn và gây nhiều tranh cãi.
3. Phát triển và thực thi các nguyên tắc của hiến pháp
Như đã đề cập đến ở trên, các nguyên tắc có thể xuất hiện trong quá trình thương lượng, từ những ý kiến của các nhóm khác nhau tham gia vào quá trình xây dựng hiến pháp. Mặc dù đôi khi thể hiện lợi ích của các nhóm chiếm ưu thế, các nguyên tắc thường thể hiện sự thỏa hiệp giữa các thành viên tham gia. Các nguyên tắc có thể được định hình từ những quy tắc và giá trị xuất phát từ lĩnh vực văn hóa, truyền thống, tôn giáo, kinh tế và chính trị. Chấp nhận những tranh luận gay gắt và khuyến khích sự tham gia của nhiều tiếng nói và ý kiến trái chiều về các giá trị căn bản của quốc gia có thể hình thành nên các nguyên tắc hiến pháp ý nghĩa và trường tồn. Giống như những người tham gia soạn thảo đều nhận thấy rằng việc đồng ý ở mức độ chung sẽ dễ hơn rất nhiều, các nhân tố khác gồm cả các công dân sẽ sẵn sàng đóng góp ý kiến về những vấn đề tổng quát mà các nguyên tắc hiến pháp đề cập đến. Một khi các nguyên tắc đã được xác định và thống nhất theo cách này, chúng sẽ soi sáng việc soạn thảo các điều khoản của hiến pháp, đảm bảo tính nhất quán và hài hòa xuyên suốt. Các nguyên tắc cũng thường được thể hiện trong một số điều khoản cụ thể của hiến pháp, trong một số trường hợp còn có những chỉ dẫn thực thi các nguyên tắc tương ứng. Tuy nhiên, không phải mọi nguyên tắc của hiến pháp được xác định rõ ràng trong hiến pháp. Chúng có thể không được đề cập đến một cách trực tiếp trong quá trình thương lượng, trong các cuộc tranh luận và trong quá trình tham gia của người dân. Thay vào đó, chúng có thể được xác định từ cách hiểu sâu sắc và sự phát triển của hiến pháp trong giai đoạn thực thi và các điều khoản được áp dụng. Đoạn này sẽ bàn về các cách phát triển cũng như áp dụng hiến pháp. Các nguyên tắc hiến pháp thường phản ánh sự thỏa hiệp giữa các nhóm tham gia vào quá trình xây dựng hiến pháp. Sự tranh luận sôi nổi, việc thu hút những tiếng nói, ý kiến khác nhau có thể góp phần tạo ra các nguyên tắc hiến pháp có ý nghĩa và bền lâu. Các nguyên tắc của hiến pháp có thể dưới dạng các điều khoản nền tảng được thể hiện trong bản văn hoặc lời nói đầu của hiến pháp; hoặc các nguyên tắc mang tính định hướng đặt ra mục tiêu căn bản của Nhà nước; hoặc các nguyên tắc ẩn dấu dưới tầng nghĩa sâu của văn bản.
4. Các điều khoản nền tảng
Một số hiến pháp có mục riêng để quy định về các nguyên tắc của hiến pháp. Ví dụ, trong chương đầu tiên của Hiến pháp Nam Phi có Các điều khoản nền tảng (xem phụ lục). Các điều khoản này thiết lập các giá trị nền tảng của nhà nước và đưa ra các cam kết về nhân phẩm con người, quyền bình đẳng, quyền con người và tự do, không phân biệt chủng tộc và giới tính, tính tối cao của Hiến pháp, bầu cử phổ thông, thường xuyên, hệ thống đa đảng trong một chính quyền dân chủ. Mục này cũng quy định các ngôn ngữ chính thức và kêu gọi tăng cường sử dụng các ngôn ngữ đó, cũng như tôn trọng và thúc đẩy mọi ngôn ngữ thông dụng tại Nam Phi. Hiến pháp của Thổ Nhĩ Kỳ cũng có phần ngay sau Lời nói đầu đề cập đến Các nguyên tắc chung, ghi nhận mô hình và đặc thù của nhà nước, mô tả các mục tiêu và trách nhiệm căn bản, bao gồm bảo đảm dân chủ và gìn giữ sự thịnh vượng, hòa bình và hạnh phúc của người dân và xã hội. Các phần như vậy về các nguyên tắc nền tảng là cơ hội đưa ra các cam kết rõ ràng đối với các giá trị trọng tâm của hiến pháp và nhà nước, định hướng rõ ràng cho việc giải thích và áp dụng hiến pháp sau này. Các điều khoản nền tảng tạo cơ hội để thiết lập các cam kết chung nhất về các giá trị trọng tâm của hiến pháp và nhà nước, mang lại định hướng rõ ràng cho việc giải thích và thực thi hiến pháp sau này.
5. Lời nói đầu
Những người soạn thảo thường ghi nhận các nguyên tắc trong lời nói đầu của hiến pháp hoặc trong phần về các nguyên tắc nền tảng. Lời nói đầu đề cập đến mục tiêu và tinh thần của văn bản hiến pháp, thể hiện các quy tắc, giá trị và nguyên tắc, thường là đề cập đến các giá trị được vun đắp trong suốt lịch sử dân tộc. Các nhà soạn thảo và các thẩm phán ít khi gắn các quyền con người được thực thi về mặt pháp lý với những nguyên tắc này, do vậy, lời mở đầu thường được coi là tiêu chuẩn chung để các thiết chế chính trị và các quan chức hướng tới, nhưng không nhất thiết là công nhận như là nguồn của luật. Tuy vậy, các thẩm phán ở các nước đã từng dựa vào lời nói đầu để củng cố cách hiểu về các điều khoản khác của hiến pháp. Ví dụ, Tòa án Tối cao Ấn Độ đã viện dẫn đến Lời nói đầu trong Hiến pháp Ấn Độ khi giải thích các điều khoản của Hiến pháp, do vậy, mang lại cho Lời nói đầu ít nhiều giá trị pháp lý. Ví dụ, trong vụ Kesavananda, Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng Điều 368 quy định về quy trình sửa đổi Hiến pháp không cho phép những sửa đổi thay đổi cấu trúc nền tảng của Hiến pháp. Tòa đã dựa vào các quy tắc được đưa ra trong Lời nói đầu để đi đến quyết định này. Do vậy, mặc dù không có hiệu lực pháp lý trực tiếp, lời nói đầu có thể ảnh hưởng đến cách giải thích luật. Hơn thế nữa, mặc dù thực tế cho thấy lời nói đầu thường không có hiệu lực pháp lý nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trừ phi có một quy định rõ ràng trong hiến pháp rằng không thể áp dụng các nguyên tắc nền tảng của lời nói đầu trong giải thích hiến pháp, nhánh tư pháp mới là người quyết định tầm ảnh hưởng và việc áp dụng các nguyên tắc trong lời nói đầu. Hơn thế, các nguyên tắc trong lời nói đầu thường có ý nghĩa trong việc đưa ra các định hướng về giá trị của hiến pháp và là biểu tượng hình thành một số cách hiểu chung về ý tưởng của hiến pháp. Lời nói đầu của hiến pháp thiết lập các mục đích và mong muốn của bản hiến pháp, thể hiện những quy phạm, giá trị và các nguyên tắc thường đã được phát triển trong suốt lịch sử đất nước. Các nhà soạn thảo và thẩm phán hiếm khi gắn các quyền có giá trị pháp lý với các nguyên tắc trong lời nói đầu, nhưng cũng có những thẩm phán đã từng dựa vào đó để lập luận cho việc tìm hiểu các quy định khác của hiến pháp.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )