1. Các tiêu chuẩn an toàn, quy tắc thương mại và chính sách đối nội

Các luật lệ về y tế và an toàn không thích nghi một cách tốt đẹp với những nguyên tắc truyền thống của GATT. Chính điều đó ngấm ngầm đòi hỏi phải thêm một tiêu chuẩn “cơ sở khoa học” vào hiệp định SPS. Xét rộng ra, sự phân biệt đối xử là hiển nhiên trong việc áp dụng những hạn chế thương mại dựa trên tình trạng dịch bệnh ở nước xuất khẩu. Bởi vì phần lớn các quy định này đều được áp dụng bên trong biên giới, sự đối xử quốc gia không phải là vấn đề chính. Tính hỗ tương không có mấy hiệu quả trong trường hợp các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn và cũng không có nhiều chỗ cho việc “mặc cả” sự nhượng bộ. Ngoài ra, quan niệm cho phép nhập khẩu như là một sự nhượng bộ các quốc gia khác về cơ bản không phối hợp với quan niệm về những nghi thức nhập khẩu có tính chất nhạy cảm và dựa trên cơ sở khoa học. Cũng quan trọng như vậy là tác động thực tiễn của các quy tắc thương mại trong lĩnh vực này. Mở rộng quy mô các quy tắc của WTO (trong các hiệp định SPS và TBT) để bao hàm cả “các phương pháp sản xuất và chế biến” lập tức mở ra các khả năng là các quốc gia cần phải biết sản phẩm đó được sản xuất ở các nước xuất khẩu như thế nào. Các tiêu chuẩn không còn áp dụng ở biên giới được nữa. Như vậy vấn đề này tự nó đã thách thức quan niệm truyền thống về các thỏa thuận thương mại. Hệ quả là những quan niệm làm nền tảng cho quy tắc thương mại về tiêu chuẩn an toàn đã hiển nhiên trở thành những quan niệm gây nhiều tranh cãi nhất.

Từ cơ sở chính trị, cuộc thương thảo về các quy tắc trong lĩnh vực an toàn thực phẩm được xúc tiến bởi sự tham gia của các nhà hoạt động nội địa mới trong lĩnh vực chính sách thương mại. Ví dụ, quy tắc mới không bao hàm “tình trạng sức khỏe tốt của gia súc” như là một căn bản cho việc hạn chế nhập khẩu. Sự loại trừ này dẫn tới việc huy động hàng loạt người ủng hộ sức khỏe gia súc - vì những người đã yêu cầu được tham gia vào quá trình hoạch định chính sách thương mại và phê phán các quy tắc và nhiệm vụ của WTO. Tương tự như vậy, quy tắc không công nhận “sở thích của khách hàng” hoặc “nỗi lo sợ” như là một căn bản cho việc hạn chế nhập khẩu. Lý lẽ của các nhà thương thuyết là khách hàng cá nhân thực hành sở thích riêng mỗi khi mua một sản phẩm nào đó còn nhà nước quan tâm tới việc hạn chế nhập khẩu những hàng hóa gây tốn kém chi phí xã hội (ví dụ, khi mà hàng nhập khẩu biểu lộ một cách khoa học khả năng gây rủi ro cho sức khỏe con người) chứ nhà nước không quan tâm tới việc hạn chế nhập khẩu hàng hóa dựa trên sở thích cá nhân. Dù sao đi nữa, sự thiếu vắng của “sở thích” hoặc “nỗi lo sợ” như là một căn bản cho chính sách hạn chế nhập khẩu của các chính phú đã dẫn tới việc huy động nhiều nhóm quyền lợi khách hàng, những người cũng thách thức cả các quy tắc của WTO. Tóm lại, việc ký kết các hiệp định TBT và SPS đã thay đổi cấu trúc của các mối liên kết nội địa, các mối liên kết mà theo truyền thống sẽ điều hành lĩnh vực quan trọng này trong tiến trình hoạch định chính sách thương mại của quốc gia.

2. Rào cản kỹ thuật trong thương mại

TBT (Technical Barriers to Trade - Rào cản kỹ thuật trong thương mại) là một trong những rào cản phức tạp nhất trong số các biện pháp phi thuế quan. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), rào cản kỹ thuật là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó. Về lý thuyết, rào cản kỹ thuật được sử dụng để bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người, môi trường sinh thái... WTO cũng đã ban hành Hiệp định TBT nhằm tạo ra một quy chuẩn gồm 3 loại biện pháp kỹ thuật mang tính thống nhất trên phạm vi toàn cầu:

Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ thuật bắt buộc áp dụng (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ).

Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được chấp thuận bởi một tổ chức đã được công nhận, nhưng không có giá trị áp dụng bắt buộc.

Quy trình đánh giá sự phù hợp (conformity assessment procedure): dùng để xác định việc đáp ứng các yêu cầu liên quan trong quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn (ví dụ như kiểm nghiệm, xác minh, kiểm tra và cấp giấy chứng nhận).

3. Biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật

SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures - Biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động -thực vật), theo WTO, bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, điều kiện, yêu cầu bắt buộc có tác động đến thương mại quốc tế nhằm bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người, vật nuôi, động vật hay thực vật thông qua việc bảo đảm an toàn thực phẩm, ngăn chặn sự xâm nhập của các dịch bệnh có nguồn gốc từ động vật hay thực vật. Biện pháp SPS có thể là các yêu cầu về chất lượng, quy trình đóng gói, bao bì, kiểm dịch, cách lấy mẫu, phương pháp thống kê, phương thức vận chuyển động vật hay thực vật... Nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý cho vấn đề này, WTO cũng đã ban hành Hiệp định SPS.

Theo tiến trình tự do hóa thương mại, các công cụ bảo hộ truyền thống dần được gỡ bỏ nên rào cản TBT và SPS trở nên có hiệu quả hơn. Theo đó, việc bị các nước lạm dụng ngày càng trở nên phổ biến, phức tạp hơn nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, gây khó khăn cho hàng hóa nhập khẩu.

4. Làm sao để hài hòa các biện pháp vệ sinh động - thực vật của các nước thành viên

- Để hài hoà các biện pháp vệ sinh động-thực vật trên cơ sở chung nhất có thể được, các Thành viên sẽ lấy các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế, nếu có, làm cơ sở cho các biện pháp vệ sinh động-thực vật của mình, trừ khi được nêu khác đi trong Hiệp định SPS.

- Các biện pháp vệ sinh động-thực vật tuân thủ các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế sẽ được cho là cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật, thực vật và được coi là phù hợp với các điều khoản liên quan của Hiệp định này và của GATT 1994.

- Các Thành viên có thể áp dụng hay duy trì các biện pháp vệ sinh động-thực vật cao hơn các biện pháp dựa trên các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế có liên quan, nếu có chứng minh khoa học, hoặc do mức bảo vệ động-thực vật mà một Thành viên coi là phù hợp theo các quy định liên quan của các khoản từ 1 đến 8 của Điều 5 Hiệp định SPS . Mặc dù vậy, tất cả các biện pháp dẫn đến mức độ bảo vệ động-thực vật khác với các biện pháp dựa trên các tiêu chuẩn, hướng dẫn hay khuyến nghị quốc tế đều không trái với bất kỳ điều khoản nào khác của Hiệp định SPS.

Điều 5 Đánh giá rủi ro và xác định mức độ bảo vệ động-thực vật phù hợp (SPS)

1. Các Thành viên đảm bảo rằng các biện pháp vệ sinh động-thực vật của mình dựa trên việc đánh giá, tương ứng với thực tế, các rủi ro đối với cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật, hoặc thực vật, có tính đến các kỹ thuật đánh giá rủi ro do các tổ chức quốc tế liên quan xây dựng nên.

2. Khi đánh giá rủi ro, các Thành viên sẽ tính đến chứng cứ khoa học đã có; các quá trình và phương pháp sản xuất liên quan; các phương pháp thanh tra, lấy mẫu và thử nghiệm liên quan; tính phổ biến của một số bệnh hay loài sâu nhất định; các khu vực không có sâu hoặc không có bệnh; các điều kiện sinh thái và môi trường liên quan; và kiểm dịch hoặc cách xử lý khác.

3. Khi đánh giá rủi ro đối với cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật, hoặc thực vật và xác định biện pháp áp dụng để có mức bảo vệ động-thực vật phù hợp khỏi rủi ro đó, các Thành viên phải tính đến các yếu tố kinh tế liên quan: khả năng thiệt hại do thua lỗ trong sản xuất hay tiêu thụ khi có sâu hoặc bệnh xâm nhập, xuất hiện hay lan truyền; chi phí của việc kiểm tra hay loại bỏ sâu bệnh trên lãnh thổ Thành viên nhập khẩu; và tính hiệu quả về chi phí của các phương cách hạn chế rủi ro.

....

- Các Thành viên sẽ tham gia đầy đủ, trong giới hạn nguồn lực của mình, vào các tổ chức quốc tế liên quan và các cơ quan phụ thuộc của các tổ chức đó, đặc biệt là Uỷ ban An toàn thực phẩm, Văn phòng Kiểm dịch quốc tế và các tổ chức quốc tế và khu vực hoạt động trong khuôn khổ Công ước Bảo vệ Thực vật Quốc tế và, trong phạm vi các tổ chức này, thúc đẩy việc xây dựng và rà soát định kỳ các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị về mọi khía cạnh của các biện pháp vệ sinh động-thực vật.

- Uỷ ban về các Biện pháp vệ sinh động-thực vật nêu tại các khoản từ 1 đến 4 của Điều 12 Hiệp định SPS (trong Hiệp định này được gọi là "Uỷ ban") sẽ xây dựng một thủ tục để giám sát quá trình hài hoà quốc tế và điều phối các nỗ lực trong lĩnh vực này với các tổ chức quốc tế liên quan.

5. Phân biệt các biện pháp kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh động thực vật như thế nào?

Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các “biện pháp kỹ thuật” (TBT), các nước còn duy trì nhóm các “biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật” (SPS). Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này.
Tuy nhiên, WTO có quy định riêng cho mỗi hai nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau (với các nguyên tắc khác nhau).
Tiêu chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục tiêu áp dụng của chúng:

- Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh;

- Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…).

Việc phân biệt khi nào một biện pháp là TBT hay SPS là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc và quy định riêng của WTO; trên cơ sở đó, doanh nghiệp biết bảo vệ quyền lợi của mình bằng phương pháp nào thì thích hợp.

Phân biệt “biện pháp TBT” và “biện pháp SPS”

Ví dụ 1: Các quy định về thuốc sâu

  • Quy định về lượng thuốc sâu trong thực phẩm hoặc trong thức ăn gia súc nhằm bảo vệ sức khoẻ con người hoặc động vật: Biện pháp SPS;
  • Quy định liên quan đến chất lượng, công năng của sản phẩm hoặc những rủi ro về sức khoẻ có thể xảy ra với người sử dụng: Biện pháp TBT.

Ví dụ 2: Các quy định về bao bì sản phẩm

  • Quy định về hun khử trùng hoặc các biện pháp xử lý khác đối với bao bì sản phẩm (tẩy uế nhằm tránh lây lan dịch bệnh): Biện pháp SPS;
  • Quy định về kích thước, kiểu chữ in, các loại thông tin về thành phần, loại hàng trên bao bì: Biện pháp TBT

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)