1. Thế nào là biện pháp đặt tiền để bảo đảm?

Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.

Hiểu một cách đơn giản thì đặt tiền để bảo đảm tức là nộp một khoản tiền để được tại ngoại, không phải áp dụng biện pháp tạm giam nữa. Khi nhận được đơn đề nghị đặt tiền để bảo đảm, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét xem bị can, bị cáo có đáp ứng đủ các điều kiện để áp dụng biện pháp này hay không. Nếu không thì biện pháp tạm giam vẫn được áp dụng. Nếu đủ điều kiện áp dụng thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ thông báo để bị can, bị cáo, người thân thích hoặc người đại diện của bị can, bị cáo làm thủ tục nộp tiền để được tại ngoại.

2. Các trường hợp không áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC quy định:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình trạng tài sản, nhân thân của bị can, bị cáo; bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, tố giác đồng phạm, có tình tiết giảm nhẹ (như tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại...); việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm trừ các trường hợp sau:

a) Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

c) Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã.

d) Phạm nhiều tội;

đ) Phạm tội nhiều lần.

Như vậy, những trường hợp bị can, bị cáo không được tiền đặt để bảo đảm gồm: Bị can, bị cáo  dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã; phạm nhiều tội; phạm tội nhiều lần.

- Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt: là trường hợp khi phạm tội, người phạm tội có những mánh khoé, cách thức gian dối, thâm hiểm làm cho người bị hại hoặc những người khác khó lường thấy trước được để đề phòng.

+ Phạm tội có tổ chức: Là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và đòi hỏi phải có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

+ Có tính chất chuyên nghiệp: Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

+ Cố ý gây hậu quả đặt biệt nghiêm trọng: Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra. Người phạn tội cố ý tức là người phạm tội thấy trước được hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra. Hậu quả có thể là thiệt hại về vật chất và có thể là thiệt hại phi vật chất. Tuỳ từng hậu quả do từng loại tội phạm gây ra mà xác định trường hợp nào gây hậu quả nghiêm trọng, trường hợp nào gây hậu quả rất nghiêm trọng và trường hợp nào gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

- Bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

+ Người cầm đầu là người đứng ra thành lập các nhóm phạm tội hoặc tham gia soạn thảo kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn hoặc điều khiển hoạt động của nhóm phạm tội. 

Theo khoản 3 Điều 17 BLHS quy định:

Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

+ Côn đồ: Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 của TAND tối cao và Kết luận tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995 giải thích: “Khái niệm côn đồ được hiểu là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người.

Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự người khác, gây gổ hành hung người khác một cách rất vô cớ hoặc vì một duyên cớ nhỏ nhặt, ví dụ như đi xe đạp, xe máy va quyệt vào người khác, có khi chính mình có lỗi nhưng đã kiếm cớ để đánh hoặc giết người ta, mặc dù có thể người kia cũng có lỗi nhỏ. Đó là hành vi có tính chất côn đồ. Những kẻ đâm thuê chém mướn phải coi là biểu hiện tính côn đồ”.
 
Án lệ số 17/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án TANDTC về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm. Trong đó yếu tố được đánh giá là có tính chất “côn đồ” là chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với nhau mà đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của nạn nhân.

+ Tái phạm: là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

+ Tái phạm nguy hiểm: 

Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

- Phạm nhiều tội: là thực hiện nhiều hành vi, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi và hành vi đó cấu thành nhiều tội phạm khác nhau. Ví dụ: A giết và cướp tài sản của B thì A phạm tội giết người và tội cướp tài sản.

- Phạm tội nhiều lần:  là thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm, những hành vi đó đều cấu thành cùng một tội phạm và chưa có hành vi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: 20/4/2020 A cướp xe máy của B. 25/4/2020, A cướp máy tính của C thì A phạm tội cướp tài sản với tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần.

3. Biện pháp đặt tiền để bảo đảm phù hợp với chủ trương hạn chế tạm giam

Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định mức tiền cụ thể mà bị can, bị cáo phải đặt để bảo đảm, nhưng không dưới:

a) Ba mươi triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Một trăm triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) Hai trăm triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Ba trăm triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Đây là quy định rất tiến bộ, nhân văn, phù hợp với chủ trương hạn chế tạm giam.

Bị can, bị cáo được áp dụng không bị ức chế về tâm lý, không bị hạn chế quyền đi lại, có điều kiện tiếp tục làm ăn, sinh hoạt, nuôi dạy con cái, cha mẹ, ông bà trong thời gian chưa có án. Lưu ý, đặt tiền để bảo đảm chỉ là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam. Nghĩa là, người được áp dụng biện pháp này là người đang bị tạm giam chứ không phải được áp dụng với bị can, bị cáo đang tại ngoại. Trong khi đang bị tạm giam, bị can, bị cáo thoả mãn đầy đủ các điều kiện đã được quy định cụ thể thì mới có thể được xem xét, áp dụng. Vì chỉ là biện pháp ngăn chặn nên không ảnh hưởng đến việc thi hành bản án sau đó. Nếu bản án sau đó buộc họ chấp hình hình phạt tù thì họ vẫn phải bị phạt tù bình thường.

4. Người có quyền áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Khoản 3 Điều 122 BLTTHS 2015 quy định:

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Cụ thể, những người có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn đặt tiền để bảo đảm là:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;

- Hội đồng xét xử;

-Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa;

-Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này quyết định về việc áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

5. Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền đã đặt.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)