Cầm cố thanh toán lớn dần (GPM) là cầm cố lãi suất cố định với mức chi trả thấp cho những năm đầu, và chi trả cao hơn sau này; được hình thành để đáp ứng nhu cầu tà chinh về nhà ở cho những người chủ trẻ với thu nhập tăng dần. Trong kinh doanh, nó còn được gọị là cầm cố “jeep”. Phương thức GPM thông dụng nhất là những trường hợp cầm cố 30 năm, với khoản tiền thanh toán tăng lên một số lượng cố định mỗi năm trong 5 đến 10 năm đầu, và sau đó lại giảm dần. Người cho vay thường tính lãi suất trên GPM hơi cao hơn so với cầm cố thông thường, vì một phần tiền lãi được hoãn lại cho đến những năm sau. Mặc dù người vay cuối cùng cũng trả nhiều hơn cho một GPM, nhưng khoản tiền nhỏ chi trả ban đầu cũng làm cho hình thức cầm cố này khả thi hơn đối với những người cần mua nhà, mà thu nhập không đủ để thực hiện hình thức vay cầm cố thông thường. Một biến thể của hình thức này là cầm cố chi trả theo lãi suất có thể điều chỉnh, hình thức này có lãi suất được điều chỉnh mỗi 3-5 năm.
Tìm hiểu luật GRAMM-LEACH-BILLEY ACT OF 1999
Luật liên bang dỡ bỏ các khoản ngăn cấm trong luật GLASS- STEAGALL vốn không cho sở hữu chéo các ngân hàng, và các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm. Các ngân hàng
thương mại hiện nay được sở hữu các công ty bảo lãnh phát hành, và tham gia bảo hiểm chứng khoán thông qua các chi nhánh được điều tiết bởi liên bang. Một bộ phận luật pháp phức tạp, ghi nhận những nỗ lực tính tới những năm đầu 1980 để hiện đại hóa ngành dịch vụ tài chính Mỹ:
Những điều khoản quan trọng gồm:
Bãi bỏ một số mục trong luật GLASS - STEAGALL 1993 bó buộc tách biệt riêng nghiệp vụ ngân hàng thương mại và nghiệp vụ ngân hàng đầu tư.
Loại bỏ việc cấm giữa Công ty Ngân hàng Mẹ năm 1956 về việc bảo lãnh bảo hiểm của ngân hàng.
Thiết lập ủy Ban Dự trữ liên bang với vai trò như cơ quan điều tiết các công ty tài chính.
Điều tiết chức năng về các hoạt động tài chính bởi các cơ quan điều tiết tiểu bang và liên bang.
Cho phép các công ty tài chính thực hiện nhiều hoạt động “bổ sung” cho nghiệp vụ ngân hàng.
Trợ giúp 10 năm cho các hoạt động phi tài chính của các công ty tham gia kinh doanh tài chính.
Cho phép các chi nhánh của các ngân hàng thực hiện bảo lãnh chứng khoán cho công ty, nhưng giới hạn quy mô công ty, chứng khoán sở hữu bởi ngân hàng ở mức 45% tổng tài sản hay 50 tỉ dollar trở xuống.
Cấm các ngân hàng bán bảo hiểm hay phát triển bất động sản.
Cơ quan Bộ Tài chính Dự trữ liên bang có quyền phủ quyết.
Cho phép những ngân hàng quốc gia trực tiếp bảo lãnh các trái phiếu thu nhập đô thị.
Không cho các công ty ngân hàng mẹ sáp nhập với các công ty chứng khoán hay công ty bảo hiểm, nếu ngân hàng chi nhánh có xếp hạng chưa đạt yêu cầu theo Bộ Luật Tái đầu tư Cộng đồng (CRA).
Yêu cầu các ngân hàng cùng các nhóm cộng đồng công khai, những điều khoản của các thỏa thuận.
Gia hạn thời gian giữa các kỳ kiểm tra CRA là năm năm cho các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm, có tài sản dưới 250 triệu dollar theo xếp hạng CRA hiện hành.
Cấm tiết lộ số tài khoản khách hàng với bên thứ ba, và yêu cầu các tổ chức tài chính thiết lập một chính sách bảo mật, và phổ biến chính sách đó tới khách hàng mỗi năm một lần.
Cấm áp dụng hình thức công ty cổ phần Tổ chức Tiết kiệm lãi suất đơn nhất sau ngày 4/5/1999, và ngăn cấm các công ty thương mại mua các tổ chức tiết kiệm hiện có này.
Cấm các tiểu bang can thiệp vào doanh thu bảo hiểm thông qua các ngân hàng quốc gia.
Tận dụng lợi thế pháp lý của Tổng kiểm toán trong tranh cãi tại tòa với các cơ quan điều tiết
bảo hiểm tiểu bang, trên các luật tiểu bang mới ban hành.
Cho phép các thành viên Ngân hàng Cho vay Mua nhà Liên bang sử dụng các khoản Vay doanh nghiệp và khoản vay dành cho nông nghiệp như khoản, thế chấp cho tiền tạm ứng từ Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang.
Yêu cầu những người quản lý các máy rút gởi tiền tự động (ATM) dán bảng thông báo phí tại các máy ATM.