Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội khác nhau. Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng quan hệ pháp luật, vì vậy, nó mang đầy đủ đặc tính của quan hệ pháp luật.
CƠ SỞ PHÁP LÝ:
Hiến pháp ban hành ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2013
Bộ luật dân sự ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015
NỘI DUNG TƯ VẤN:
1. Phân tích quyền bí mật đời tư của cá nhân ?
Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyền nhân thân của cá nhân. Quyền bí mật đời tư được thừa nhận rộng rại trên pháp luật nhiều nước trên thế giới được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự 2015 Tại điều 38 như sau:
"1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."
Bí mật đời tư là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân được thế giới thừa nhận rộng rãi. Việc bảo vệ quyền bí mật đời tư còn đảm bảo cho việc thực hiện một số quyền khác của cá nhân( như quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền hiến xác, bộ phận cơ thể, quyền tự do tín ngưỡng..) được đảm bảo triệt để hơn. Xác định rõ tầm quan trọng của quyền bí mật đời tư với cá nhân, pháp luật Việt Nam cũng có những quy định nhằm bảo vệ quyền này.
Điều 21 Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “ Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.” Không chỉ luật dân sự, một số ngành luật khác như luật hình sự, luật hôn nhân gia đình, luật báo chí…cũng có những quy định bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân.
2. Định nghĩa về “Quyền bí mật đời tư”.
Như đã nói ở trên, mặc dù pháp luật nước ta có nhiều quy định liên quan đến quyền bí mật đời tư của cá nhân song vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra được một định nghĩa chính thức về quyền này. Trước hết, xét về mặt ngữ nghĩa “bí mật” là “được giữ kín trong phạm vi một số ít người, không để lộ cho 4 người ngoài biết” hoặc theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì “bí mật” còn được giải thích là “giữ kín, không để lộ ra, không công khai”. Như vậy, về cơ bản có thể hiểu “bí mật đời tư” là những thông tin, tư liệu…của cá nhân được cá nhân đó giữ kín, không công khai (phạm vi “công khai” có thể khác nhau tuỳ từng trường hợp) và những thông tin, tư liệu này nếu được công khai thường sẽ gây bất lợi cho bản thân cá nhân đó và những người có liên quan.
Tuy nhiên, những “thông tin”, những “tư liệu”… như thế nào mới được coi là bí mật cá nhân và cần được pháp luật bảo vệ. Như chúng đã biết, đời sống cá nhân là một phạm trù rộng bao gồm rất nhiều phương diện, nhiều khía cạnh. Do vậy, không thể coi tất cả các mặt liên quan đến các nhân là bí mật đời tư, việc xác định phạm vi của “bí mật đời tư” có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn pháp luật hiện nay.
Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ... gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín, v.v…” .
Định nghĩa về khái niệm bí mật đời tư như sau: “Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận”.
3. Nguồn của Luật Dân sự ? Cho ví dụ ?
Nguồn của Luật Dân sự là những văn bản pháp luật (hình thức của pháp luật) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Một văn bản được coi là nguồn của Luật Dân sự phải đáp ứng các yêu cầu:
- Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;
- Chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự;
- Phải ban hành theo trình tự thủ tục do Luật định;
Ví dụ: Bộ Luật Dân Sự, Nghị định của chính phủ….
Phân loại: Căn cứ theo tên gọi ta chia thành các nguồn:
- Hiến pháp: chương 2 Chế độ kinh tế và hình thức sở hữu, Chương 5 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
- Bộ luật dân sự: Là nguồn chủ yếu, và quan trọng nhất, quy định hầu hết các vấn đề liên quan tới lĩnh vực dân sự.
- Luật, và các văn bản dưới luật. Được coi là nguồn của luật Dân sự, khi nó có liên quan tới linh vực dân sự.
+ Đối với luật: nó có thể là luật hôn nhân và gia đình, đất đai, doanh nghiệp
+ Văn bản dưới luật: Nghị định, pháp lệnh, Nghị quyết
4. Phân tích đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự ?
Khái niệm: Quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực Dân sự được pháp luật điều chỉnh. Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng của quan hệ pháp luật, mang đầy đủ các đặc điểm chung của một quan hệ pháp luật đó là thể hiện ý chí của nhà nước, được nhà nước đảm bảo thực hiện, cưỡng chế bằng các biện pháp nhà nước.
Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự:
- Chủ thể tham gia quan hệ dân sự đa dạng: là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác (các chủ thể độc lập về tổ chức và tài sản). Do Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, các quan hệ phát sinh trong đời sống thường nhật của các cá nhân, tổ chức.. Mọi cá nhân, tổ chức đều là chủ thể của quan hệ dân sự
- Địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng, không bị phụ thuộc vào các yếu tố khác. Khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, một bên chủ thể mang quyền, một bên gánh nghĩa vụ và thông thường, trong quan hệ dân sự các bên thường có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Điều này không làm mất đi sự bình đẳng mà chỉ hạn chế đi sự bình đẳng so với trước khi tham gia. Các bên không được áp đặt ý chí của mình buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ, mà phải tạo điều kiện cho họ lựa chọn cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ sao cho có lợi nhất cho các bên.
- Lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế) là tiền đề phần lớn trong các quan hệ dân sự. Do tính chất của quan hệ tài sản là hàng hóa - tiền tệ và sự đền bù tương ứng là đặc trưng, nên quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản, giúp thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của chủ thể. Quan hệ dân sự có yếu tố tài sản là cơ sở cho sự phát sinh các mối quan hệ. Việc đảm bảo bằng tài sản để buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền sẽ có các biện pháp thỏa mãn quyền tài sản của mình.
- Biện pháp cưỡng chế có thể do các bên quy định cụ thể. Đặc tính của tài sản là đặc trưng cho các cưỡng chế trong quan hệ pháp luật dân sự.
5. Phân tích căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự ?
Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự cũng như các quan hệ pháp luật khác đó chính là các sự kiện nhất định, sự kiện pháp lý.
Sự kiện pháp lý: là sự kiện thực tế mà pháp luật đã dự liệu, quy định làm phát sinh các hậu quả pháp lý ( Có thể làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự).
+ Một sự kiện xảy ra trong thực tế có thể làm phát sinh nhiều hậu quả pháp lý: Ví dụ: một cái chết của một người sẽ làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ, phát sinh quan hệ thừa kế
+ Có thể nhiều sự kiện pháp lý mới làm phát sinh một quan hệ dân sự. Đa số các quan hệ pháp luật dân sự phát sinh từ nhiều sự kiện pháp lý.
Phân loại sự kiện pháp lý: Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh của nó.
a) Hành vi pháp lý: Là hành vi có mục đích của các chủ thể nhằm phát sinh hậu quả pháp lý
Hành vi pháp lý được coi là căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự....Vì nó thể hiện được ý chí của các chủ thể ra các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng.
Gồm hai các loại hành vi pháp lý:
- Hành vi hợp pháp: Hành vi có chủ định, phù hợp quy định pháp luật, không trái với đạo đức và làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự.
- Hành vi bất hợp pháp: Hành vi có chủ định, không phù hợp quy định pháp luật, trái đạo đức và bị áp dụng các chế tài của pháp luật làm phát sinh các hậu quả pháp lý.
- Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: làm phát sinh hậu quả pháp lý ( Ví dụ: quyết định của tòa án về bồi thường thiệt hại ...)
b) Xử sự pháp lý: Là hành vi không nhằm phát sinh hậu quả nhưng theo quy định của pháp luật, hậu quả pháp lý được phát sinh.
Ví dụ: đào móng nhà, phát hiện được vàng ...
c) Sự biến pháp lý: Sự biến pháp lý là những sự kiện xảy ra không phụ thuộc vào ý muốn của con người nói chung và những người tham gia vào quan hệ dân sự nói riêng.
Sự biến pháp lý chỉ có ý nghĩa khi pháp luật quy định trước hậu quả.
- Sự biến tuyệt đối: Sự kiện xảy ra trong thiên nhiên không phụ thuộc vào ý chí con người (lũ lụt, động đất…)
- Sự biến tương đối: sự kiện xảy ra do hành vi của con người, nhưng không phụ thuộc vào hành vi của chủ thể tham gia nhưng làm phát sinh hậu quả pháp lý với họ.
d) Thời hạn: là sự kiện pháp lý đặc biệt làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Thời gian trôi đi không phụ thuộc và ý chí con người. Đến một thời điểm và làm phát sinh hậu quả pháp lý.
Ví dụ: Thời hiện miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện ...
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê