1. Chế độ bảo hộ quốc tế là gì?

Chế độ bảo hộ quốc tế là chế độ thống trị của thực dân do các nước đế quốc áp dụng đối với những nước lệ thuộc, theo đó chủ quyền quốc gia của nước bị bảo hộ bị hạn chế hoặc chỉ tồn tại trên hình thức. Thực chất mọi quyền hành nằm trong tay chính phủ nước bảo hộ, đặc biệt là quyền quân sự,ngoại giao. Khác với chế độ thuộc địa do chính phủ thực dân trực tiếp cai trị, chế độ bảo hộ là do chính phủ thực dân cai trị thông qua một chính phủ bù nhìn.

2. Chế độ bảo hộ của thực dân Pháp

Sự bảo hộ của Thực dân Pháp đối với Việt Nam được thể hiện rõ nét qua việc vẫn giữ nguyên bộ máy nhà nước thời Nguyễn làm tay sai đắc lực cho chúng.

Thực dân Pháp chiếm nước ta với 2 bản hiệp ước Hacmang 1883 và hiệp Patonốt 1884 mà triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp công nhận sự thống trị dài của thực dân Pháp đối với nước ta. Sau khi đặt ách thống trị lên nước ta nhanh chóng thiết lập chế độ chính trị vô cùng phản động và chúng ra sức khai thuộc địa với mục đích vơ vét, xuất khẩu tư bản, bóc lột sức lao động và thị trường tiêu thụ:

2.1. Về kinh tế

Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân phản động và bảo thủ nhằm biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá ế thừa và cung cấp nguyên vật liệu cho chúng:

- Thực hiện chính sách độc quyền về kinh tế trên tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp

- Đặt ra nhiều thứ thuế vô lý (thuế thân, thuế chợ, thuế đò…)

- Duy trì phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu nhằm mục đích bóc lộ đa kìm hãm nền kinh tế của nước trong vòng lạc hậu.

- Thực dân Pháp thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chư trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy lớn, tốc độ nhanh

Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nhưng thực Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nư ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp

Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau khi đán chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến h những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.

Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Việt Nam, chúng đã khai thác khoáng sản của đất nước ta. Bộ máy cai trị được hình thành. Chúng xây dựng c nhà máy điện, nước, xi măng, dệt,..., lập các đồn điền, mở mang đường xá để v vét tài nguyên và bóc lột sức lao động của người dân nước ta.

Thực dân Pháp muốn biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá và cung cấp nguyên nhiên liệu cho Pháp nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản Pháp. Vào giai đoạn đầu, thực dân Pháp chỉ mới chú trong vào hai lĩnh vực chủ là nông nghiệp và khai mỏ.

+ Nông nghiệp: Năm 1897, Pháp ép triều Nguyễn kí điều ước “nhượng” qu “khai khẩn đất hoang” cho chúng. Ngay sau đó, Pháp tăng cường cướp đoạt đất lập các khu đồn điền lớn để trồng cao su, thứ cây công nghiệp mà Pháp coi trọn khi đó.

+ Công nghiệp: chú trọng khai thác mỏ than và kim loại. Tuy nhiên Pháp không xây nhà máy luyện kim tại Việt Nam, tất cả kim loại khai thác được chở Pháp. Phần lớn các xí nghiệp khai mỏ nằm trong tay những tập đoàn tư bản Phá Phương thức hoạt động là tận dụng nhân công lao động rẽ mạt, sao cho chi phí xuất giảm xuống mức thấp nhất để thu lợi nhuận cao.

+ Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thông hiện đại, vừa ph vụ làm ăn lâu dài, vừa nhằm mục đích quân sự.

+ Thương nghiệp: Việt Nam trở thành thị trường độc quyền của tư bản Phá Pháp độc quyền thu thuế xuất nhập khẩu. Tất cả hàng hóa Việt Nam mà Pháp c đều phải ưu tiên xuất sang Pháp, không được xuất khẩu sang nước khác, những hàng hóa mà Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng hóa của các nước khác thì Việt Nam vẫn phải mua của Pháp.

Tiến hành chính sách khai thác để cướp đoạt tài nguyên, bóc lột công rẻ mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của tư bản Pháp, độc quyền về kinh tế để bề ve vét, độc hành về thuế và phát hành giấy bạc, duy trì hình thức bóc lột pho kiến, kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong vòng lạc hậu, làm cho kinh tế nước phụ thuộc vào kinh tế Pháp.

Đặc biệt chúng độc quyền về muối, rượu và thuốc phiện:

+ Về muối : Muối là một trong những thứ nhu yếu phẩm, đặc biệt lại là mộ phẩm vô cùng quan trọng trong miếng ăn của người Việt Nam, là thành phần vô cùng cần thiết trong việc dự trữ thực phẩm, chế biến món ăn và nấu ăn Muốn muối cá, muối thịt, làm nước mắm, muối dưa cải hay muối chua cá thứ rau, tất cả đều phải có muối. Kho cá, kho thịt, làm xôi, nấu cơm nếp, cháo trắng lót lòng cũng phải có muối. Nói tóm lại, bất kỳ món ăn nào cũ phải có muối. Chính vì thế mà đối với người Việt Nam, muối trở thành m sản phẩm vô cùng quan trọng không khác gì gạo. Hơn nữa, nước ta không mỏ muối. Vì thế, tất cả muối tiêu thụ ở nước ta đều được sản xuất qua phương pháp gạn lọc nước biển bằng cách để cho nước bốc hơi bay đi hế chất muối lắng xuống ở dưới rồi gom lại thành từng thúng đem đi bán. D tình trạng này, chỉ những vùng ven biển có bãi cát lài lài, thoai thoải bằng bằng mới có điều kiện để sản xuât muối. Những vùng bờ biến dốc đứng không có điều kiện sản xuất muối. Những yếu tố này đã khiến cho muối t nên khan hiếm ở trên thị trường. Biết được những yếu tố quan trọng này, nhà làm chính sách thuế khóa trong chính quyền Liên Minh Pháp – Vatic nghĩ ngay đến biện pháp nắm độc quyền phân phối muối. Qua chính sách đánh thuế bất nhân này, chúng đã thu vơ về ngân quỹ của Liên Minh Phá Vatican một khỏan tiền khổng lồ có thể đủ trả lương cho 50% công chức Đông Dương

+ Về rượu : Trong thực tế, rượu đã được coi như khá quan trọng trong nếp văn hóa của bất kỳ xã hội nào dù là văn minh hay lạc hậu. Với các quốc g Đông Phương chịu ảnh hưởng của nền văn minh Khổng Mạnh, rượu đã tr thành một trong những yếu tố vô cùng quan trọng trong nếp sống văn hóa người dân. Cũng vì thế mà rượu hiện diện trong hầu hết các ngày lễ lạc, đám cưới, đám tang, cúng tế và những cuộc hôi ngộ giữa các bạn bè thân thiết trong những bữa tịêc kẻ ở tiễn người đi hoặc trong bữa cơm vui đón mừn người đi xa trở về, tất cả cũng đều phải có rượu. Ở nước ta, rượu cũng vô cùng quan trọng, trong thời xưa, bất bất kỳ làng xóm nào cũng có một ha gia đình sinh sống bằng nghề nấu rượu, rượu trở thành sản phẩm rất thôn dụng, không bao giờ khan hiếm. Biết rõ tính cách quan trọng của rượu tro nếp sống văn hóa của người Việt Nam là như vậy, với chủ trương cố hữu trọn quyền kiểm sóat tất cả mọi ngành sinh họat trong xã hội, Giáo Hội L Mã và thực dân Pháp bèn quyết định nắm độc quyền sản xuất và phân ph rượu, rồi cưỡng bách nhân dân ta hàng năm phải tiêu thụ số lượng ruợu th đúng chỉ tiêu mà chúng đã đề ra. Với việc nắm trong tay độc quyền sản x rượu trong nước, thực dân Pháp không chỉ thu về lợi nhuận hàng năm, mà có khả năng không chế và đầu độc nhân dân ta.

+ Về thuốc phiện : Thuốc phiện bị coi như là một sản phẩm có tác hại vô cù nguy hiểm cho những người hút và gia đình họ. Thế nhưng, từ khi dân ta vào ách thống trị của Liên Minh Pháp – Vatican, thuốc phiện lại do chính quyền chủ động nhập cảng, thiết lập các cơ sở biến chế, tổ chức hệ thống phân phối, khuyên khích mở các tiệm hút và tiệm bán công khai cho khác hàng tiêu thụ, rồi nắm độc quyền buôn bán sản phẩm này. Như vậy là chí quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho khá nhiều người mà đa số thuộc thàn phần khá giả dễ dàng a dua đua đòi rồi sa ngã vào tình trạng nghiện ngập hư hại cả cuộc đời. Nhìn rộng ra, nếu quốc gia có quá nhiều người nghiện thuốc phiện như vậy, thì dân nước sẽ không còn ý chí đấu tranh để tự tồn mặc cho ngoại nhân thao túng tự tung tự tác. Hậu quả là quốc gia đó sẽ lụ bại, suy vong rồi sớm muộn cũng rơi vào cảnh lệ thuộc nước ngoài. Tuy nhiên, thiết nghĩ rằng, ngoài chủ trương làm tiêu tan ý chí đấu tranh của d tộc Việt Nam, Liên Minh Pháp – Vatican còn có chính sách độc quyền nh cảng lậu và phân phối thuốc phiện vừa để lấy tiền chi phi cho bộ máy cai máy cai trị này với mục đích khích lệ họ tích cực thẳng tay đàn áp và bóc dân ta.chế và đầu độc nhân dân ta.

2.2. Chính trị

Chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề. M quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn qu Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công s các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án..., biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai.

Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đ tranh của dân ta trong biển máu. Chúng tiếp tục thi hành chính sách chia để trị thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập b đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, gồm Việt Nam,Campuch Lào, đứng đầu là viên Toàn quyền người Pháp.

Thi hành chế độ chuyên chế, trực tiếp nắm mọi quyền hành:

Dùng chính sách "chia để trị": Thực dân Pháp chia rẽ 3 nước Đông Dương, lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp. ở VN, Pháp thực hiện chia rẽ giữa 3 kỳ (the chế độ cai trị khác nhau). Chúng chia rẽ người Kinh và các dân tộc khác, giữa miền xuôi- miền núi, giữa các tôn giáo...

Mỗi xứ gồm nhiều tỉnh, đứng đầu các xứ và tỉnh là các viên quan người Pháp.Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu. Đơn vị hành chính cơ sở ở Việt Nam vẫn l làng xã, do các chức tịch địa phương cai quản.Bộ máy chính quyền từ trung ương tới địa phương đều do thực dân Pháp chi phối. Thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nướ của nhân dân ta và khủng bố, cấu kết với địa chủ.

Thực dân Pháp tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn

3. Phong trào Việt Nam trước khi Đảng ra đời

Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng. Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học… lãnh đạo. Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại.

Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Cách mạng nước ta đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.

Có thể nói phong trào cách mạng Việt Nam trước khi Đảng ra đời cũng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên nó đa phần là tự phát và có thể nói là bị khủng hoảng đường lối nghiêm trọng. Điều đó đã thúc đẩy động lực để đảng ra đời.