1. Phái trọng nông đồng ý cải cách thuế
Do thời gian nên chúng ta không thể hiểu biết sâu sắc về quy định chính sách của pháp Trọng nông. Phái Trọng nông tìm kiếm chính sách để khích lệ sự tích lũy Tư bản, vốn bị trì hoãn bởi mức thuế quá cao áp đặt vào nông dân. Vì thế họ đồng ý cải cách thuế.
Quesnay tính toán số lượng và khả năng sản xuất Tư bản cần thiết để đạt đến một trạng thái bền vững trong nông nghiệp, và Cantillon tiếp theo sau, ông cho rằng việc đưa vốn vào nông nghiệp là cách duy nhất để đạt được một sản phẩm ròng chịu thuế. Cái khéo là phải đáp ứng nhu cầu của kho báu trong khi đồng thời gạt bỏ những cách đánh giá không hợp lý ngăn cản sự phát triển nông nghiệp. Giải pháp cho cả hai vấn đề đơn thuần là đánh thuế chủ đất. Phái Trọng nông xem việc thu thuế ở nước Pháp thời tiền cách mạng là vô hiệu. Phương pháp hiệu quả nhất lă đánh thuê' vào nhóm sau cùng phải đóng thuế. Vì thuế chỉ có thể đóng từ sản phẩm ròng, nên phải đánh thuế vào những ai nhận sản phẩm ròng. Cùng lúc, mức thuê' áp đặt phải thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu tài chánh của một nước.
2. Phái Trọng nông tán thành mậu dịch tự do
Nguồn tích lũy Tư bản khác dành cho đầu tư nông nghiệp là tiền thuê đất, trong chừng mực chủ đất chịu trách nhiệm cải thiện đất đai. Tuy nhiên, các hạn chế Trọng thương đối với mậu dịch tự do trong nông sản là giữ giá nông phẩm (cũng là tiền thuê đất) ở mức thấp bằng việc hạn chế cầu. Vì thế, phái Trọng nông tán thành mậu dịch tự do. Cởi bỏ những hạn chế này, họ cảm thấy, và một chính sách “đẩy lùi” chung của chính phủ sẽ cho phép Tư bản chảy tự do vào bộ phận nông nghiệp tạo khả năng phát triển dòng chu chuyển qua thời gian theo “luật tự nhiên”.
Khuynh hướng phải xem phái Trọng nông như kẻ thù của giai cấp có đất. Không gì khác hơn là sự thật. Phái Trọng nông không bao giờ thay đổi định chế tài sản cá nhân hay vị trí được tán dương của giới chủ đất. Thay vào đó, họ xem chủ sở hữu là những thành viên đáng giá trong xã hội và cũng là thành viên cần thiết trong tiến trình phát triển. Xét cho cùng, chính chủ sở hữu bỏ ra vốn đầu tư ban đầu để khai hoang đất có thể canh tác và tiến hành một số cải thiện trước khi giao đất cho nông dân canh tác. Vì thế, chủ sở hữu được quyền chia sẻ sản lượng hàng năm. Theo quan điểm của phái Trọng nông, khác với quan điểm của Marx, chủ đất là những “anh chàng tốt bụng” chứ không phải là vật ký sinh trong xã hội.
3. Tại sao phái Trọng nông lại trừng phạt chủ đất bằng cách phản đối tiền thuế đánh vào tiền thuê đất?
Phái Trọng nông cho rằng bất kỳ sự bất tiện trước mắt nào đối với chủ sở hữu về thuế sẽ được bù đắp nhiều hơn trong lâu dài bằng sự gia tăng sau đó số tiền đầu tư vào nông nghiệp và giá trị sản phẩm ròng nhiều hơn, vì thế là tiền thuê đất nhiều hơn. Tóm lại, chủ đất là giai cấp đặc quyền, nhưng trách nhiệm của họ được xem là tương xứng với vị trí được tán dương của họ trong xã hội.
Có lẽ điều quan trọng ở chỗ phải nắm được phái Trọng nông lập luận như thế nào và phải hiểu họ phải nói những gì. Giống như nhiều tác giả xã hội sau này, họ nhận thức kinh tế học mang tính hữu cơ về bản chất. Họ xem kinh tế học là một hỗn hợp cực kỳ tinh vi, phức tạp gồm nhiều bộ phận cấu thành - liên kết bằng cơ chế trao đổi thị trường - trong đó bất kỳ xáo trộn nào đối với một bộ phận sau cùng cũng lây sang các bộ phận khác qua tiến trình tương tác và phản ứng. Quan điểm của họ có thể gọi là phân tích cân bằng tổng quát đầu tiên (xem Chương 16) và phép loại suy không nên bỏ qua giữa quan điểm kinh tế học này với quan điểm cơ thể con người mà một thầy thuốc thường viện dẫn như Quesnay. Theo giải phẫu học, sự xáo trộn đối với một bộ phận cơ thể - ví dụ như dạ dày chẳng hạn - sớm muộn gì cũng được truyền dẫn các bộ phận khác, chúng tương tác và phản ứng để bù trừ cho xáo trộn ban đầu. Trong kinh tế học, sự xáo trộn trong sản xuất mang đến sự xáo trộn về cầu và ngược lại vì mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của hai yếu tố này.
4. Một vài quan điểm phê bình phái Trọng nông
Một người Ý tên Galiani phản ứng chống lại phái Trọng nông, phản đối cả quan điểm trật tự tự nhiên lẫn nỗ lực xây dựng hệ thống kinh tế. Triết gia Pháp Condillac bác bẻ một cách chính xác quan điểm cho rằng nhà sản xuất công nghiệp không tham gia sản xuất và đóng góp đầy ý nghĩa cho thuyết giá trị, một vấn đề chỉ có phái Trọng nông xem nhẹ, vì họ quan tâm nhiều đến sản xuất và phân phối hơn là thuyết trao đổi. Nhưng những phàn nàn này không đe dọa nghiêm trọng uy tín của các nhà kinh tế Pháp.
Phê bình hiện đại về phái Trọng nông thường diễn ra trên một hay hai mặt trận: (1) thuyết thuần túy của phái Trọng nông không đủ tương hợp với thực tế trong thời đại của họ hay (2) thuyết của họ bị lu mờ bởi sự nghiên cứu quy phạm. Phê bình sau cùng ngụ ý rằng học thuyết của họ có thể rút gọn thành một quá trình duy lý hóa đơn thuần quyền lợi của giai cấp. Mỗi lập luận đều có một số giá trị.
Lập luận đầu tiên tập trung vào lời buộc tội phái Trọng nông cho rằng nhà sản xuất công nghiệp không tham gia vào sản xuất. Nhưng họ thực sự muốn nói điều gì qua từ này? Như đã giải thích từ trước, bằng từ “sản xuất” họ không muốn nói khả năng đơn thuần tạo ra tính hiệu dụng hay giá trị bổ sung. Những hoạt động này được phái Trọng nông xem như mang tính sản xuất chắc chắn cũng có khả năng này, nhưng cũng có quá nhiều những nghề nghiệp không sản xuất. Như Ronald Meek nhận xét:
“Bản chất thực sự của một nghề “sản xuất” theo cách sử dụng từ thông dụng của phái Trọng nông nằm ở khả năng vốn có để đạt được thặng dư khả dụng sau khi trừ chi phí cần thiết, và bản chất thực sự của một nghề “không sản xuất” nằm ở bất lực vốn có để tạo ra thặng dư như thế” (The Economics of Physiocracy, trang 379).
Phái Trọng nông lập luận sản xuất công nghiệp là không sinh sản với nghĩa nằm trong những điều kiện tự do cạnh tranh. Họ hoàn toàn muốn thừa nhận rằng trong điều kiện độc quyền, thặng dư giá trị là do sản xuất mà có sau khi trừ chi phí cần thiết. Hãy nhớ rằng trong điều kiện cạnh tranh, giá (cân bằng) lâu dài chỉ bằng với tổng chi phí sản xuất trung bình. Ớ Pháp thế kỷ 18, quan sát này dường như phù hợp với kinh nghiệm của phái Trọng nông.
Phái Trọng nông mắc phải sai lầm nghiêm trọng trong khi cho rằng sản xuất công nghiệp là “bất lực không đạt được thặng dư sau khi trừ chi phí tự nhiên và vốn có”. Họ kết luận nhầm lẫn rằng vì sản xuất công nghiệp không đạt được thặng dư giá trị sau khi trừ chi phí cần thiết trong điều kiện cạnh tranh, thì sẽ không bao giờ có thể làm được như thế trong điều kiện cạnh tranh (ví dụ, trong thời gian ngắn). Trong quan điểm này, họ đã nhầm, nhưng quan điểm của họ là một sai lầm trong dự đoán hơn là sai lầm trong thực tế. Có thể chúng ta đòi hỏi quá nhiều khi yêu cầu những nhà kinh tế học phải là những nhà tiên tri cũng như nhà khoa học.
Thế nhưng, giải pháp cho vấn đề mang lại giải pháp khác. Nếu sự cạnh tranh giảm giá sản phẩm công nghiệp làm ra bằng với mức chi phí cần thiết, thì tại sao không giảm giá như thế trong nông nghiệp, vì thế sẽ xóa đi tiền tô chăng? Trong một số điểm thuộc tác phẩm của mình, phái Trọng nông có vẻ đùa giỡn với cách giải thích độc quyền về tiền thuê đất, nhưng chính câu trả lời của họ không thỏa đáng. Họ xem sản phẩm ròng đơn thuần là món quà của tự nhiên, hay món quà của Chúa - một lập luận quen thuộc trong lịch sử tư tưởng kinh tế học ban đầu. Nhưng trong khi thiên nhiên giải thích thặng dư sản lượng vật chất trong nông nghiệp thì không thể giải thích sự tồn tại của thặng dư giá trị. Thặng dư giá trị chỉ được giải thích bằng thuyết giá trị tổng quát có khả năng lý giải sự quyết định đối với sản phẩm và các yếu tố giá cả. Phái Trọng nông có một số khái niệm về giá trị, nhưng họ không tạo ra thuyết giá trị. Nhiệm vụ xây dựng một thuyết giá trị tổng quát thuộc về Adam Smith, đã phản ứng đáng khâm phục, như chúng ta sẽ nhìn thấy sau này.
5. Những nhận xét về phái trọng nông thế kỷ 20
Thế kỷ 20 tạo ra hai cách giải thích mâu thuẫn nhau về phái Trọng nông, cả hai đều cố gắng giải thích quyền lợi giai cấp ở nước Pháp thế kỷ 18. Một quan điểm cho rằng phái Trọng nông đơn thuần là những người Tân Trung cổ, tìm cách phủ nhận nguyên lý chủ nghĩa Trọng thương và khắc phục sai lầm của trật tự cũ. (Beer, An Inquiry into Physiocracy). Quan điểm khác, cho rằng phái Trọng nông là những nhà cải cách tìm cách phục vụ nhu cầu và quyền lợi của những chủ đất, thường dân mới hình thành (Ware, “Physiocrats: A Study in Economic Rationalization”).
Cách giải thích có lẽ đúng hơn là xét phái Trọng nông theo hai hướng - trở ngược lại chế độ phong kiến và hướng tới chủ nghĩa Tư bản ở phía trước. Nếu cách giải thích này đúng, thì vị trí của họ trong lịch sử tư tưởng kinh tế mang cả hai tính chủ đạo và quá độ. Trong xã hội Trọng nông, địa vị cao quý của chủ đất (nghĩa là giới quý tộc) và định chế tài sản cá nhân được duy trì giống như dưới chế độ phong kiến, nhưng những điều kiện phải được chỉnh đốn lại trước sự xuất hiện chủ nghĩa Tư bản nông nghiệp. Phái Trọng nông, nói cách khác, là những người cải cách thận trọng, không muốn theo trật tự cũ hoàn toàn mà hăm hở chờ đợi sự khởi đầu mới của chủ nghĩa Tư bản.
Ấn tượng lâu dài nhất của phái Trọng nông đối với sự phát triển phân tích kinh tế có lẽ là ảnh hưởng của họ đối với Adam Smith. Trên đỉnh cao hoạt động văn học của họ, Adam Smith quen biết họ trong lúc đang tiến hành cuộc điều tra của riêng ông về tính chất và chức năng của Tư bản trong xã hội nông nghiệp. Do đó ông xoay qua chiều hướng tư duy có hệ thống mà sau này ông tự mình khai thác và chứng minh qua kiệt tác The Wealth of Nations. Vì các tác giả khác thiếu tư duy có hệ thống, nên những nỗ lực trước đây trong việc hình thành lý thuyết kinh tế tổng quát ở Anh không thành công.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)