1. Chủ nghĩa tự do là gì?

Chủ nghĩa tự do là một hệ tư tưởng, quan điểm triết học, và truyền thống chính trị dựa trên các giá trị về tự do và bình đẳng. Chủ nghĩa tự do có nguồn gốc từ phong trào Khai sáng ở phương Tây, nhưng thuật ngữ này mang nhiều nghĩa khác nhau trong các giai đoạn khác nhau. Như tại Mỹ, khái niệm chủ nghĩa tự do (liberalism) có ý nói đến chủ nghĩa tự do xã hội (Social liberalism), chủ nghĩa tự do hiện đại, trong khi ở các nơi khác nó vẫn mang ý nghĩa ban đầu của chủ nghĩa tự do cổ điển (classical liberalism).

2. Quan niệm về chủ nghĩa tự do

Chủ nghĩa tự do được gọi là “thách thức hiện tại mạnh mẽ nhất đối với chủ nghĩa hiện thực” (Caporaso 1993). Giống như chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do có một phả hệ riêng với nguồn gốc triết học xuất phát từ tư tưởng chính trị của John Locke, Immanuel Kant và Adam Smith. Chủ nghĩa tự do xứng đáng với quan tâm của chúng ta vì nó nêu lên những vấn đề mà chủ nghĩa hiện thực không đề cập tới, bao gồm ảnh hưởng của chính trị trong nước đến hành vi của quốc gia, tác động của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, và vai trò của các quy chuẩn và thể chế quốc tế đối với việc hỗ trợ hợp tác quốc tế.

3. Thế giới quan tự do

Có nhiều trường phái tư tưởng riêng biệt trong truyền thống của chủ nghĩa tự do. Đưa ra kết luận chung từ một tập hợp lý thuyết quá đa dạng như vậy sẽ có nguy cơ diễn dịch sai ý của bất cứ tác giả nào. Tuy nhiên, vẫn có đủ một số nét tương đồng để có thể tóm tắt thành một vài chủ đề chung.

Chủ nghĩa tự do khác với chủ nghĩa hiện thực ở một số điểm quan trọng. Trọng tâm của chủ nghĩa tự do là niềm tin vào lý trí và khả năng tiến bộ. Các nhà chủ nghĩa tự do xem cá nhân là trung tâm của các giá trị đạo đức và cho rằng con người nên được đối xử như là kết quả thay vì phương tiện. Trong khi các nhà hiện thực khuyên bảo những nhà làm chính sách nên tìm kiếm một điều ít xấu xa hơn thay vì một sự tốt đẹp tuyệt đối thì những nhà tự do nhấn mạnh vào nguyên tắc đạo đức thay vì theo đuổi quyền lực, vào các thể chế thay vì khả năng quân sự (xem Doyle 1997; Howard 1978; Zacher và Matthew 1995). Chính trị ở cấp độ quốc tế là cuộc đấu tranh vì sự đồng thuận và lợi ích chung hơn là cuộc đấu tranh vì quyền lực và danh thế.

Thay vì đổ lỗi cho ham muốn cố hữu về quyền lực gây ra xung đột quốc tế, các nhà tự do lại chê trách các điều kiện mà con người đang sống. Họ cho rằng cải tổ được những điều kiện này sẽ tăng cường triển vọng hòa bình. Yếu tố đầu tiên phổ biến trong nhiều dòng suy nghĩ tự do là nhấn mạnh việc thực hiện cải cách chính trị để tạo ra nền dân chủ ổn định. Ví dụ như Woodrow Wilson đã tuyên bố rằng “chính phủ dân chủ sẽ làm cho chiến tranh ít có khả năng xảy ra”. Sau đó Franklin Roosevelt cũng đã phản ánh lại quan điểm này khi ông cho rằng “Sự tăng cường và duy trì liên tục nền dân chủ sẽ tạo ra một sự đảm bảo quan trọng cho hòa bình quốc tế”. Dựa trên sự khoan dung, chung sống và các quyền về quy trình, văn hóa chính trị dân chủ được cho là luôn tránh xa những vũ lực gây ra thương vong như là phương tiện phải quyết xung đột. Chính trị không được xem như trò chơi có tổng bằng 0, do đó việc sử dụng sự thuyết phục thay cho ép buộc, và việc dựa trên con đường pháp lý để giải quyết các tranh chấp là những phương tiện chủ yếu để giải quyết xung đột.

Theo lý thuyết tự do, các thói quen giải quyết xung đột được sử dụng trong nước cũng có thể được áp dụng để giải quyết xung đột quốc tế. Các nhà lãnh đạo tương tác với nhau qua các nền văn hóa dân chủ có cái nhìn giống nhau. Xem chính trị quốc tế là một sự mở rộng của chính trị nội bộ, các nhà lãnh đạo cũng “ngoại hóa” các quy chuẩn của cạnh tranh được điều tiết. Xung đột với các chính phủ tương tự rất hiếm khi leo thang thành chiến tranh vì mỗi bên chấp nhận tính chính đáng của bên còn lại và hy vọng giải quyết xung đột theo cách hòa bình. Những hy vọng này được củng cố nhờ bản chất minh bạch của chế độ dân chủ. Các hoạt động bên trong của tổ chức nhà nước mở có thể được giám sát kỹ lưỡng bởi bất kỳ ai, do đó, thật khó để bêu xấu họ là đang mưu đồ tạo nên sự đối địch.

Suy nghĩ thứ hai quen thuộc trong lý thuyết tự do là sự nhấn mạnh tự do thương mại. Ý tưởng về việc thương mại giúp thúc đẩy các giải pháp giải quyết xung đột có nguồn gốc từ nghiên cứu của Montesquieu, Adam Smith và một số nhà tư tưởng của thời kỳ Khai sáng. Nhà triết học David Hume (1817) cho rằng “không gì thuận lợi hơn cho việc nâng cao học hỏi và sự lịch thiệp bằng liên kết bằng thương mại giữa một số nước láng giềng độc lập”. Quan điểm này sau đó được Trường phái kinh tế chính trị Manchester áp dụng và tạo thành cơ sở cho sự bác bỏ nổi tiếng của Norman Angell (1910) đối với nhận định rằng việc chinh phục quân sự mang lại sự giàu có về kinh tế.

Học thuyết cho rằng thương mại tự do giúp ngăn chặn các cuộc xung đột leo thang thành chiến tranh dựa trên một số mệnh đề. Thứ nhất, trao đổi thương mại tạo ra động lực về mặt vật chất để giải quyết xung đột một cách hòa bình: Chiến tranh làm giảm lợi nhuận vì làm gián đoạn các trao đổi kinh tế quan trọng. Thứ hai, các giới tinh hoa kinh doanh quốc tế vốn có lợi nhất từ những trao đổi này tạo thành một nhóm lợi ích xuyên quốc gia quyền lực mong muốn thúc đẩy các giải pháp hòa bình để giải quyết các bất đồng. Cuối cùng, mạng lưới thương mại giữa các quốc gia sẽ tăng cường thông tin liên lạc, làm xói mòn chủ nghĩa hẹp hòi và khuyến khích hai phía tránh những va chạm tai hại. Theo lời của Richard Cobden, một người phản đối Luật Ngũ cốc (Corn Laws) mang tính bảo hộ vốn từng điều tiết thương mại ngũ cốc quốc tế của Anh thì “Thương mại Tự do! Điều đó là gì? Tại sao lại cần phá bỏ những rào cản chia rẽ các quốc gia; những rào cản đó, mà đằng sau chúng là những cảm giác tự hào, thù hận, căm ghét và đố kỵ, điều mà thỉnh thoảng phá vỡ giới hạn của chúng và làm cả quốc gia tràn ngập máu” (trích trong Wolfers và Martin 1965).

Cuối cùng, điểm chung thứ ba trong lý thuyết tự do là sự ủng hộ các thể chế quốc tế. Các nhà tự do đề xuất việc thay thế nền chính trị cân bằng quyền lực nguy hiểm bằng các tổ chức dựa trên nguyên tắc rằng mối đe dọa tới hòa bình ở bất kỳ đâu đều là mối quân tâm chung của tất cả mọi người. Họ xem chính sách đối ngoại được tiến hành trong một xã hội toàn cầu đang manh nha có dân số là các chủ thể luôn nhận ra phí tổn của xung đột, chia sẻ những lợi ích chính yếu, và có thể đạt được những lợi ích này bằng cách sử dụng các thể chế để hòa giải tranh chấp khi có nhận thức sai lầm, những nhạy cảm bị tổn thương và khát khao của quốc gia mới nổi đe dọa đến quan hệ của họ.

4. Sự phát triển của tư duy tự do

Chủ nghĩa tự do hiện tại đã chiếm ưu thế sau khi Thế chiến I kết thúc. Cuộc chiến tranh này không chỉ bao gồm các bên tham gia trải rộng trên một khu vực địa lý rộng lớn hơn bất kỳ một cuộc chiến tranh nào trước đó mà còn là do khoa học và kỹ thuật hiện đại đã làm cho cuộc chiến tranh này trở thành cuộc chiến tranh về máy móc. Những vũ khí cũ được nâng cấp và tạo ra với số lượng lớn, những vũ khí mới sát thương cao thì nhanh chóng được phát triển và triển khai. Khi cuộc tàn sát này kết thúc, gần 20 triệu người đã chết.

Đối với một người theo chủ nghĩa tự do như Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, Thế chiến I là “cuộc chiến tranh để kết thúc tất cả các cuộc chiến tranh”. Cho rằng một cuộc chiến tranh khủng khiếp khác sẽ xảy ra nếu các quốc gia tiếp tục thực hiện chính trị quyền lực trở lại, các nhà chủ nghĩa tự do bắt đầu cải tổ hệ thống quốc tế. Các “nhà lý tưởng” này, theo như cách gọi của các nhà hiện thực cứng rắn, thường rơi vào ba nhóm sau (Herz 1951). Nhóm thứ nhất ủng hộ việc tạo ra các thể chế quốc tế để giảm nhẹ những cuộc đấu tranh quyền lực khốc liệt giữa các quốc gia ích kỷ và nghi ngờ lẫn nhau. Hội Quốc Liên là hiện thân của dòng suy nghĩ tự do này. Các nhà sáng lập nó hy vọng rằng thể chế này sẽ ngăn chặn được các cuộc chiến tranh trong tương lai bằng cách tạo ra một hệ thống an ninh tập thể có thể huy động toàn bộ cộng đồng quốc tế chống lại kẻ xâm lược tương lai. Những nhà sáng lập Hội Quốc Liên tuyên bố rằng hòa bình là không thể chia rẽ: Bất cứ cuộc tấn công nào vào một thành viên của Hội sẽ được coi là cuộc tất công vào tất cả các thành viên khác. Vì không có quốc gia nào mạnh hơn tổng các quốc gia còn lại, những kẻ xâm lược sẽ bị răn đe và chiến tranh là có thể tránh được.

Nhóm thứ hai kêu gọi việc sử dụng các thủ tục pháp lý để xét xử các cuộc tranh chấp trước khi chúng leo thang thành xung đột vũ trang. Sự xét xử là một thủ tục luật pháp để giải quyết xung đột bằng cách đưa tranh chấp ra tòa án thường trực để có một quyết định mang tính ràng buộc.

Ngay khi chiến tranh kết thúc, một số chính phủ đã phác thảo một đạo luật để thành lập Tòa Án Công lý Quốc tế Thường trực (PCIJ). Được khen ngợi bởi chủ tịch đầu tiên của tòa án – Ông Bernard C.J, Loder – như là một dấu hiệu của kỷ nguyên mới của nền văn minh, PCIJ đã tổ chức cuộc họp ra mắt công chúng vào đầu năm 1922 và đưa ra phán xét đầu tiên trong một trường hợp tranh chấp năm sau đó. Những người ủng hộ chủ nghĩa tự do của tòa án quả quyết rằng Tòa án Công lý sẽ thay thế các cuộc trả đũa quân sự bằng bộ máy pháp lý có thể mang vấn đề của các cuộc tranh chấp ra ánh sáng và đưa ra một phán quyết công bằng.

Nhóm thứ ba của các nhà tự do đi theo lời răn trong Kinh thánh cho rằng các quốc gia nên chuyển gươm đao thành lưỡi cày và tìm kiếm sự giải trừ quân bị như là phương tiện để tránh chiến tranh. Các nỗ lực của họ được minh chứng tại hội nghị hải quân Washington từ năm 1921 đến năm 1922 nhằm giảm bớt sự cạnh tranh hàng hải giữa Hoa Kỳ, Liên hiệp Anh, Nhật Bản, Pháp và Ý bằng cách giới hạn số tàu chiến. Mục đích chủ yếu của nhóm này là giảm căng thẳng quốc tế bằng cách thúc đẩy giải trừ quân bị tổng thể, điều này cũng dẫn đến việc triệu tập Hội nghị Giải trừ quân bị tại Geneva năm 1932.

Mặc dù giọng điệu của chủ nghĩa lý tưởng chiếm ưu thế trong luận điệu chính sách và các tranh luận học thuật trong suốt thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh nhưng có rất ít chương trình cải cách tự do được thực hiện nghiêm túc, và thậm chí càng ít chương trình hơn nữa thành công. Hội Quốc Liên thất bại trong việc ngăn chặn Nhật xâm lược Mãn Châu (1931) hoặc Ý xâm lược Ethiopia (1935). Các cuộc tranh chấp quan trọng hiếm khi được nộp lên Tòa Án Công lý Quốc tế; và Hội nghị Giải trừ quân bị Geneva năm 1932 kết thúc thảm bại. Khi mối đe dọa chiến tranh bất đầu xuất hiện lại ở Châu Âu và Châu Á vào cuối những năm 1930 thì sự nhiệt tình đối với chủ nghĩa lý tưởng tự do cũng dần bị lu mờ đi.

Làn sóng tiếp theo của chủ nghĩa tự do xuất hiện nhiều thập kỷ sau đó để đáp lại sự thờ ơ của chủ nghĩa hiện thực đối với quan hệ xuyên quốc gia (xem Keohane và Nye 1971). Mặc dù các nhà hiện thực tiếp tục tập trung vào các quốc gia nhưng các sự kiện xoay quanh cuộc Khủng hoảng dầu mỏ 1973 cho thấy rằng các chủ thể phi quốc gia cũng ảnh hưởng đến chiều hướng của các sự kiện quốc tế, và thỉnh thoảng cạnh tranh với các quốc gia. Sự nhìn nhận này dẫn đến việc phát hiện ra rằng sự phụ thuộc lẫn nhau phức tạp (Keohane và Nye 1977) thường đưa ra nhiều miêu tả tốt hơn về chính trị thế giới hơn là chủ nghĩa hiện thực, đặc biệt đối với vấn đề môi trường và kinh tế quốc tế. Mối liên hệ giữa các nước thay vì chỉ giới hạn trong các quan chức cấp cao của chính phủ thì nên được mở ra trên nhiều kênh giao tiếp khác nhau để kết nối xã hội. Thay vì an ninh luôn chế ngự trong các sự cân nhắc chính sách đối ngoại thì các vấn đề trên chương trình nghị sự quốc gia không phải lúc nào cũng có một ưu tiên cố định. Thay vì lực lượng quân sự được sử dụng như một phương tiện chủ yếu của nghệ thuật quản lý nhà nước thì các phương tiện khác thường có hiệu quả hơn khi sự mặc cả xảy ra giữa các quốc gia có mối liên hệ kinh tế với nhau. Nói tóm lại, mối quan tâm của chủ nghĩa hiện thực đối với quan hệ giữa chính phủ với chính phủ đã bỏ sót mạng lưới phức tạp của sự trao đổi giữa cộng đồng và tư nhân vốn đan chéo nhau qua biên giới quốc gia. Các quốc gia trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau; đó chính là sự phụ thuộc, nhạy cảm và dễ bị tổn thương vì bên kia theo cách mà chủ nghĩa hiện thực không đề cập tới.

Trong khi sự phụ thuộc lẫn nhau không mới nhưng sự phát triển của nó trong suốt một phần tư cuối thế kỷ XX đã dẫn đến việc nhiều nhà tự do thách thức quan niệm của chủ nghĩa hiện thực về tình trạng vô chính phủ. Mặc dù chấp nhận rằng hệ thống quốc tế là vô chính phủ nhưng họ cũng cho rằng nó nên được định nghĩa chính xác là tình trạng vô chính phủ “có trật tự” bởi vì hầu hết các quốc gia đều theo một tiêu chuẩn quy phạm được thừa nhận chung, thậm chí khi không có sự cưỡng chế thực hiện. Khi một bộ quy chuẩn khuyến khích các mong muốn chung, giúp định hướng một mô hình hợp tác được điều tiết về một vấn đề cụ thể thì chúng ta gọi đó là thiết chế quốc tế (xem Hansenclever, Mayer, và Rittberger 1996). Nhiều loại thiết chế đã được đưa ra để quản trị các hành vi trong thương mại và vấn đề tiền tệ, cũng như quản lý cách tiếp cận các nguồn tài nguyên chung như đánh cá và nguồn nước sông. Tới đầu thế kỷ XXI, khi các vấn đề môi trường và kinh tế cấp thiết luôn xuất hiện đầy trên các chương trình nghị sự quốc gia, một bộ phận lớn các học giả tự do đã tập trung nghiên cứu cách các thiết chế phát triển như thế nào và điều gì khiến các quốc gia tuân theo các thiết chế đó.

Được nhen nhóm bởi niềm tin rằng sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng có thể dẫn đến mức độ hợp tác cao hơn, làn sóng mới của chủ nghĩa tự do, được biết đến dưới tên chủ nghĩa tự do mới (hay chủ nghĩa thể chế tự do mới) đã đưa ra một thách thức nghiêm trọng cho chủ nghĩa hiện thực và hiện thực mới trong suốt thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Những người theo chủ nghĩa tự do mới cho rằng các quốc gia cố gắng để tối đa hóa lợi phần tuyệt đối bằng cách hợp tác nhằm gia tăng lợi ích chung, và rằng các thể chế quốc tế đưa ra một cơ chế để phối hợp hành động đa phương và giảm thiểu xung đột của bất kỳ ai không giữ đúng cam kết. Một mặt, các thể chế tăng cường sự hợp tác bằng cách cung cấp thông tin về mong muốn của những nước khác; mặt khác, chúng ngăn chặn các động cơ bội ước bằng cách giám sát việc tuân thủ các thỏa thuận.

Gần đây, các nhà tự do mới đã tìm hiểu tình huống tiến thoái lưỡng nan của rủi ro đạo đức khi các quốc gia hành xử theo cách làm trầm trọng thêm các vấn đề cấp thiết bởi họ mong rằng các thể chế quốc tế sẽ bảo lãnh cho họ. Chẳng hạn như một quốc gia không thể thanh toán những khoản dư nợ có thể tiếp tục mượn thêm tiền dưới giả định rằng một thể chế như Qũy Tiền tệ Quốc tế sẽ cung cấp hỗ trợ tài chính cho họ (Martin 2007, 118-124). Các nghiên cứu về tình trạng lưỡng nan này giúp các nhà tự do mới có được cái nhìn sâu sắc hơn về việc làm thế nào mà các thể chế quốc tế thỉnh thoảng lại có đủ quyền tự trị để theo đuổi chương trình riêng của họ mặc cho áp lực phải đáp lại mong muốn của các quốc gia quyền lực nhất.

5. Các hạn chế của chủ nghĩa tự do

Các nhà tự do quan tâm đến việc tìm hiểu các điều kiện mà theo đó các lợi ích hội tụ và chồng chéo giữa các chủ thể chính trị có chủ quyền có thể dẫn đến việc họ hợp tác với nhau. Nhận thức rõ ràng sự ngăn cấm quốc tế, thông qua đồng thuận cộng đồng, đối với các tập quán lâu đời trước đây như nô lệ, cướp biển, đấu súng tay đôi và chủ nghĩa thực dân, các nhà tự do nhấn mạnh triển vọng tiến bộ thông qua việc cải cách các thể chế. Các nghiên cứu về sự hội nhập Châu Âu suốt năm 1950 và 1960 đã mở đường cho các lý thuyết thể chế tự do xuất hiện trong những năm 1990. Sự mở rộng của thương mại, truyền thông, thông tin, công nghệ và lao động nhập cư đã đẩy Châu Âu tới việc phải hi sinh một phần độc lập chủ quyền của mình để tạo ra một liên minh chính trị và kinh tế mới dựa trên các đơn vị riêng lẻ trước đây. Những phát triển này vượt khỏi thế giới quan của chủ nghĩa hiện thực, tạo ra các điều kiện để kêu gọi một lý thuyết có nền móng từ truyền thống tự do vốn thuyết phục những người đã từng nghi ngờ chủ nghĩa hiện thực trước đây. Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã nói: “Trong một thế giới nơi mà sự tự do chứ không phải sự chuyên chế đang phát triển thì các tính toán bất chấp đạo lý của chính trị quyền lực thuần túy đơn giản không mang lại kết quả. Điều đó không phù hợp với kỷ nguyên mới.”

Tuy nhiên, dù chủ nghĩa thể chế tự do đương đại tỏ ra hấp dẫn lúc mới bắt đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà hiện thực phàn nàn rằng nó không vượt qua được di sản lý tưởng của chính nó (Xem Áp dụng: Thép và các mục đích tốt). Họ cho rằng giống như Hội Quốc Liên và Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực, các thể chế ngày nay chỉ có ảnh hưởng tối thiểu đến hành vi của quốc gia. Các tổ chức quốc tế không thể ngăn nổi các quốc gia hành động theo logic của cân bằng quyền lực, tính toán mỗi bước đi của họ ảnh hưởng thế nào đến vị trí tương đối của mình trong thế giới cạnh tranh liên tục này (Mearsheimer 1994/1995; 1995).

Các nhà phê bình chủ nghĩa tự do tranh luận rằng hầu hết các nghiên cứu ủng hộ thể chế quốc tế xuất hiện trong lĩnh vực chính trị cấp thấp của thương mại, tài chính và các vấn đề xã hội chứ không phải trên lĩnh vực chính trị cấp cao của an ninh quốc gia. Dù rất khó để xác định ranh giới rõ ràng giữa các vấn đề kinh tế và an ninh nhưng một vài học giả cho rằng các sắp xếp thể chế khác nhau tồn tại trong từng lĩnh vực và triển vọng hợp tác giữa các quốc gia lớn hơn trong lĩnh vực kinh tế so với lĩnh vực an ninh (Lipson 1984). Chủ nghĩa hiện thực khẳng định rằng sự tồn tại của quốc gia phụ thuộc vào việc quản lý hiệu quả các vấn đề an ninh. Các tổ chức an ninh tập thể ngây thơ cho rằng tất cả các thành viên nhận thức về mối đe dọa theo cách giống nhau, và sẵn sàng chấp nhận rủi ro và chi trả phí tổn cho việc chống lại những mối đe dọa này (Kissinger 1992). Bởi vì các quốc gia tư lợi không nhìn nhận lợi ích thiết yếu của mình theo hướng này nên các tổ chức quốc tế không thể đưa ra phản ứng kịp thời và cứng rắn đối với các cuộc xâm lược. Các nhà hiện thực kết luận rằng đối với các vấn đề an ninh thì các quốc gia sẽ tin tưởng vào sức mạnh của chính mình chứ không phải là những lời hứa của các tổ chức quốc tế.

Một lời phàn nàn cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực dành cho chủ nghĩa tự do là khuynh hướng được cho là biến chính sách đối ngoại thành một cuộc vận động đạo đức. Trong khi các nhà hiện thực cho rằng người đứng đầu quốc gia bị chi phối bởi những đòi hỏi chiến lược thì nhiều nhà tự do tin rằng các đòi hỏi đạo đức áp đặt mệnh lệnh tuyệt đối lên các lãnh đạo. Hãy xem xét cuộc chiến tranh ở Kosovo năm 1999, vốn là cuộc đọ sức giữa Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Chính phủ Cộng hòa Liên bang Nam Tư. Chỉ ra cuộc đàn áp người gốc Albani ở tỉnh Kosovo của nhà lãnh đạo Nam Tư Slobodan Milosevic, Tổng Thư ký NATO Javier Solana, Thủ tướng Anh Tony Blair và Tổng Thống Mỹ Bill Clinton cho rằng can thiệp nhân đạo là một việc làm bắt buộc về mặt đạo đức. Mặc dù nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia đã từ lâu là nguyên tắc chính trong luật pháp quốc tế nhưng các nhà lãnh đạo trên đều thấy sự can thiệp quân sự chống lại Nam Tư là một nhiệm vụ cấp bách do quyền con người là quyền quốc tế và chính phủ nào vi phạm điều đó sẽ mất đi sự bảo vệ của luật pháp quốc tế. Theo các nhà tư tưởng tự do, chủ quyền không phải là bất khả xâm phạm. Cộng đồng quốc tế có nghĩa vụ sử dụng vũ lực để ngăn chặn các vi phạm hiển nhiên đối với quyền con người.

Tóm lại, chủ nghĩa hiện thực vẫn còn hoài nghi tuyên bố của chủ nghĩa tự do về sự cần thiết của đạo đức. Mặt khác, họ phủ nhận việc áp dụng toàn cầu một nguyên tắc đạo đức riêng lẻ trong một thế giới đa nguyên văn hóa. Họ lo sợ rằng sự áp dụng tiêu chuẩn này sẽ gây ra chính sách đối ngoại tự mãn, giống như một vị cứu tinh. Chủ nghĩa hiện thực áp dụng “chủ nghĩa hệ quả”. Nếu không có tiêu chuẩn toàn cầu nào bao trùm các tình huống mà bắt buộc phải đưa ra các lựa chọn đạo đức thì các quyết định chính sách chỉ có thể được đánh giá về mặt kết quả trong những tình huống cụ thể. Các nhà lãnh đạo khôn ngoan nhận ra rằng các giá trị đạo đức đối nghịch nhau có thể bị đe dọa trong một số tình huống cụ thể và họ phải cân nhắc sự đánh đổi giữa các giá trị này cũng như theo đuổi chúng như thế nào để không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và các lợi ích quan trọng khác. Nhà cựu ngoại giao Mỹ và học giả hiện thực George Kennan (1985) đã từng nói rằng bổn phận chính yếu của chính phủ “là lợi ích của xã hội quốc gia nó đại diện chứ không phải là các thôi thúc đạo đức mà các yếu tố cá nhân của xã hội đó trải nghiệm”.