Xã hội đang ngày càng tiến bộ, văn minh thì trình độ dân trí cũng tăng theo. Nâng cao hiệu quả chất lượng tư vấn pháp luật là chuyện rất cần thiết trong thời đại bây giờ. Việc nâng cao chất lượng tư vấn thì cần có sự xác định chính xác các chủ thể tư vấn pháp luật và đào tạo họ những kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng cần thiết để họ có thể hành nghề.

1. Khái niệm

Tư vấn có thể là tư vấn về tâm lý, tư vấn về bất động sản, tư vấn việc làm hay tư vấn sức khỏe,...và hoạt động này ngày càng phổ biến trong các lĩnh vực khác nhau. Tư vấn là quá trình thu thập những thông tin, yêu cầu của chủ thể yêu cầu tư vấn, từ đó chủ thể tư vấn sẽ vận dụng những kiến thức của mình trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định để đưa ra lời tư vấn để giải quyết thắc mắc, yêu cầu của chủ thể yêu cầu tư vấn. 

Pháp luật là "những quy phạm hành vi do Nhà nước ban hành, mọi công dân buộc phải tuân theo nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội". Pháp luật là những quy phạm pháp luật bắt buộc do Nhà nước ban hành, bao gồm: Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Nghị định, Thông tư,...

Tư vấn pháp luật là một trong những hoạt động tư vấn mang tính chuyên môn cần phải có sự hiểu biết rộng và sâu cũng như có kinh nghiệm thực tế để có thể đưa ra những ý kiến, phương án giải quyết vấn đề hay yêu cầu mà chủ thể yêu cầu tư vấn pháp lý đưa ra. Việc chủ thể tư vấn pháp lý đóng góp, xây dựng các ý kiến, phương án đó không mang tính bắt buộc, cưỡng chế mà quyền quyết định có thực hiện hay không thuộc về chủ thể yêu cầu tư vấn. Những ý kiến đấy không được trái với những quy định của pháp luật

Theo định nghĩa pháp lý, được quy định tại Điều 28 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) về hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư:

"1. Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ.

Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực pháp luật.

2. Khi thực hiện tư vấn pháp luật, luật sư phải giúp khách hàng thực hiện đúng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ."

Trong Từ điển Luật học có định nghĩa về "tư vấn pháp lý": "Người có chuyên môn về pháp luật và được hỏi ý kiến để tham khảo khi giải quyết, quyết định công việc. Việc tham gia ý kiến theo góc độ pháp luật với tư cách là cộng tác viên hoặc là làm dịch vụ".

Như vậy, tư vấn pháp luật là hoạt động đưa ra ý kiến có tính chuyên môn của chủ thể tư vấn pháp luật về nội dung hay thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến một tình huống thực tế cụ thể của chủ thể yêu cầu tư vấn. Chủ thể tư vấn pháp luật là cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật và có quyền và nghĩa vụ khi tham gia tư vấn pháp luật.

2. Chủ thể tham gia tư vấn pháp luật

Trong hệ thống thông luật (common law), tư vấn pháp luật luôn luôn được thực hiện bởi luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng. Còn hệ thống dân luật (civil law), tư vấn pháp luật sẽ do người bào chữa, luật sư hoặc bởi chuyên gia trong lĩnh vực khác thực hiện như: chuyên gia về thuế, người cố vấn chuyên nghiệp,...

Ở một vài quốc gia, người thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật bắt buộc phải có một chứng chỉ đặc biệt. Một số quốc gia khác thì chỉ quy định những quy định chung về nghĩa vụ nghề nghiệp. Bất kỳ ai cũng có thể hành nghề tư vấn pháp luật và họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý về những lời tư vấn mà bản thân đã đưa ra.

Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang có hiệu lực thì chủ thể thực hiện hoạt động tư vấn bao gồm:

* Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý 

Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. 

- Trung tâm trợ giúp pháp lý: là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.

- Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý: là tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức đăng ký tham gia trơ giúp pháp lý.

* Người thực hiện trợ giúp pháp lý

Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Thứ nhất, trợ giúp viên pháp lý là người thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý trong đó có thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật. Họ có những tiêu chuẩn chặt chẽ quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 như: phẩm chất đạo đức, có trình độ cử nhân Luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý; có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý và không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật.

Khi tham gia hoạt động tố tụng thì họ sẽ là người bào chữa cho người bị buộc tội (người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý) trong tố tụng hình sự và cho đương sự trong tố tụng dân sự. Điểm d khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: "Người bào chữa có thể là: trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý". Điều này đã khẳng định tầm quan trọng của công tác Trợ giúp pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và những người yếu thế trong xã hội.

Thứ hai, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định luật sư tham gia trợ giúp pháp lý với tư cách là cộng tác viên trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Quy định này đã được bãi bỏ và thay thế bởi điểm b khoản 1 Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 là luật sư trực tiếp ký kết hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo "cơ chế tuyển chọn". Đây là cơ chế hỗ trợ cho các Trung tâm trợ giúp pháp lý lựa chọn được đội ngũ luật sư có chất lượng.

Thứ ba, tư vấn viên pháp luật làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Việc đặt điều kiện tư vấn viên có 02 năm kinh nghiệm tư vấn vấn pháp luật trở lên giúp cho dịch vụ tư vấn pháp lý được cải thiện hơn về chất lượng cũng như lợi ích của những người được hưởng trợ giúp pháp lý được chủ trọng, quan tâm hơn.

Thứ tư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý là những người đã nghỉ hưu, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý. 

* Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật

Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật theo Điều 28 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). Luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, quan điểm của mình và giúp họ soạn thảo những giấy tờ liên quan đến quyền và lợi ích của khách hàng.

* Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật

Hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật mang tính chất xã hội và không nhằm mục đích thu lợi nhuận. Họ phải thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật với điều kiện được quy định tại Điều 5 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 07 năm 2008 về tư vấn pháp luật: có ít nhất hai tư vấn viên pháp luật hoặc một tư vấn viên pháp luật và một luật sư hoặc hai luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động.

3. Sự khác nhau giữa hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư và của trợ giúp pháp lý

Luật sư thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật khác với hoạt động tư vấn pháp luật của trợ giúp pháp lý. Dễ nhận thấy sự khác nhau qua các tiêu chí sau:

- Về phí chi trả dịch vụ: Khách hàng có khả năng tài chính sẽ đến công ty, văn phòng luật để sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật từ các luật sư ở đó. Hoạt động tư vấn trong trợ giúp pháp lý là dịch vụ pháp lý miễn phí nhưng lại chỉ dành cho những đối tượng hạn chế về tài chính, người yếu thế,...

- Về đối tượng sử dụng dịch vụ: Những ai có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật từ luật sư thì sẽ sử dụng, còn đối tượng được trợ giúp pháp lý là những người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em,...

- Lĩnh vực thực hiện hoạt động tư vấn: Luật sư thực hiện hoạt động tư vấn trong tất cả các lĩnh vực. Trợ giúp pháp lý thực hiện hầu hết tất cả lĩnh vực trừ lĩnh vực kinh doanh, thuong mại. Việc không thực hiện trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại thì có quan điểm cho rằng: trong kinh doanh, thương mại thì chủ thể tham gia là những người giàu, có khả năng tài chính sẽ tự chi trả được những khoản phí từ việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý. Quan điểm này khác với bản chất của trợ giúp pháp lý - hướng tới đến việc giúp đỡ những người yếu thế, người nghèo,...bảo vệ quyền nhân thân, quyền con người của họ.

4. Trách nhiệm của chủ thể trong hoạt động tư vấn pháp luật

Thứ nhất, trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện tự quản luật sư hoặc hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, luật sư. Còn Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp với Sở Tư pháp quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, luật sư.

Thứ hai, trách nhiệm của tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật.

Tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp lý có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý trong quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý cua tổ chức tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật.

Thứ ba, trách nhiệm của tổ chức chủ quản của Trung tâm tư vấn pháp luật và chi nhánh.

Tổ chức chủ quản của Trung tâm tư vấn pháp luật và chi nhánh do mình thành lập theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật và Điều lệ của tổ chức mình.

5. Nâng cao chất lượng tư vấn pháp luật

Chủ thể tư vấn pháp luật rất đa dạng, họ có thể là cá nhân (luật sư, cộng tác viên, trợ giúp viên pháp lý,...) cũng có thể là tổ chức (tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý,...). Việc nâng cao chất lượng tư vấn là vô cùng cần thiết:

- Đối với cá nhân: mỗi cá nhân thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật cần rèn luyện đạo đức hành nghề tư vấn pháp luật và trang bị cho mình những kiến thức chuyên môn và các lĩnh vực khác vừa sâu và vừa rộng, kỹ năng hành nghề tư vấn pháp luật (kỹ năng đọc và tóm tắt, kỹ năng soạn thảo văn bản,...)

- Đối với tổ chức: tổ chức những lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật, các chương trình tập huấn; quản lý nhân sự trong tổ chức và hoạt động của tổ chức chặt chẽ và phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quản lý, giám sát tổ chức mình.

Nhà nước cũng phải đưa ra những chính sách phù hợp, hiệu quả đối với nâng cao hoạt động tư vấn pháp lý, đảm bảo quyền và lợi ích cho những người yếu thế, người có điều kiện kinh tế khó khăn.

(Sưu tầm và biên tập)