CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776

Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ

Theo quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 1958 Chính phủ Pháp có chức năng xác định và thực hiện chính sách quốc gia. Chính phủ quản lý bộ máy hành chính và lực lượng quân sự. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Đứng đầu Chính phủ là thủ tướng. Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo hoạt động cúa Chính phủ, chịu trách nhiệm về quốc phòng, đảm bảo việc thực hiện các luật và có quyền ban hành các văn bản pháp quy, bổ nhiệm các chức vụ dân sự và quân sự. Thủ tướng có quyền đề nghị tổng thống bổ nhiệm và bãi nhiệm các bộ trưởng; có quyền đưa ra dự án luật, đề nghị Nghị viện họp bất thường, đề nghị họp ủy ban hỗn hợp giữa Quốc hội và Thượng nghị viện để giải quyết các bất đồng trong quá trình thông qua luật.

2. Cách thức thành lập và giải thể Chính phủ:

2.1 Cách thức thành lập Chính phủ:

Theo quy định tại Điều 8 Hiến pháp năm 1958 Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng. Tổng thống chấm dứt quyền hạn của Thủ tướng theo đơn xin từ chức của Chính phủ do Thủ tướng đệ trình. Theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống bổ nhiệm các thành viên khác của Chính phủ và bãi nhiệm họ.

Việc bổ nhiệm Thủ tướng thuộc quyền của Tổng thống tuy nhiên Tổng thống không được hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn Thủ tướng. Nếu ở Vương quốc Anh nhà vua không thể bổ nhiệm ai khác ngoài lãnh tụ của Đảng chiếm đa số ghê' trong Nghị viện thì ở Pháp tình hình cũng tương tự như vậy. Tổng thôhg phải lựa chọn Thủ tướng trong số những người có uy tín nhất của đảng (hoặc liên minh các đảng) chiếm đa số ghế trong Nghị viện, thông thường đó là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện. Hiến pháp không quy định về điều kiện này nhưng nó là hệ quả của một quy định khác trong Hiến pháp. Đó là quyền của nghị viện có thể bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ buộc Chính phủ phải giải tán.

Trước đây, do nhiệm kỳ của tổng thống là 7 năm còn nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm nên ở Pháp Tổng thôhg trong nhiệm kỳ của mình phải thay đổi Chính phủ. Mối quan hệ giữa Tổng thống và Thủ tướng phụ thuộc rất nhiều vào việc họ có cùng ở trong một đảng phái chính trị hay không. Nếu cùng một đảng phái chính trị thì vai trò của Thủ tướng rất mờ nhạt, ngược lại vai trò của Tổng thống sẽ rất lớn vì tổng thống có đa số Nghị sĩ trong Quốc hội làm hậu thuẫn. Ngược lại nếu Tổng thống và Thủ tướng không cùng đảng phái chính trị thì nhiều khi Tổng thống phải nhượng bộ Thủ tướng vì Thủ tướng trong trường hợp này là lãnh tụ của đảng có ưu thế trong nghị viện có thể gây sức ép đối với Tổng thống. Kinh nghiệm thưc tiễn cho thấy trong nhiệm kỳ 7 năm của mình, Tổng thống thường bổ nhiệm hai Thủ tướng khác nhau. Nửa cuối nhiệm kỳ của mình Tổng thống thường lựa chọn một nhà chuyên môn hoặc một nhân vật chính trị mờ nhạt thay thế vị Thủ tướng đang có tham vọng danh cử chức Tổng thông trong nhiệm kỳ tới với mình. Mặt khác, do nhiệm kỳ quá dài nên vào đầu nhiệm kỳ Tổng thống thường là lãnh tụ của đảng hoặc Hên minh các đảng chiếm ưu thế trong Nghị viện nhưng đến nửa cuối nhiệm kỳ tình hình chính trị có thể thay đổi. Đảng đối lập với Tổng thống có thể trở thành Đảng cầm quyền và lúc này mặc dù không muốn Tổng thống cũng phải bổ nhiệm thủ lĩnh của Đảng này làm Thủ tướng. Đó là trường hợp Tổng thống F.Mitterrand bổ nhiệm Jaques Chữác làm Thủ tướng vào năm 1986 và Edouard Bahadur vào năm 1993. Hiện nay do nhiệm kỳ của Tổng thống và Thủ tướng đều ngang nhau là 5 năm và bầu cử Tổng thông và Nghị viện diễn ra trong hai tháng kế tiếp nhau nên thường Tổng thống và Thủ tướng đều cùng là những thủ lĩnh của Đảng cầm quyền. Điều này làm cho Tổng thống và Thủ tướng luôn có sự ủng hộ của đa số trong Nghị viện. Tổng thống Nicolas Sarkozy và Thủ tướng Francois Fillon đều là các thủ lĩnh của Đảng hên minh vì phong trào nhân dân (Union pour un mouvement populaire), đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện Pháp nhiệm kỳ 2007-2012.

Việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ được tiến hành trong thực tiễn hoàn toàn “sinh động” hơn quy định của Hiến pháp. Theo quy định của Hiến pháp Thủ tướng lựa chọn các thành viên của Chính phủ đề nghị Tổng thống bổ nhiệm. Việc Thủ tướng được tiếp ký bên cạnh chữ ký của tổng thống trong quyết định bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ khẳng định vai trò của thủ tướng trong việc thành lập Chính phủ.

Tuy nhiên, trong thực tiễn việc Thủ tướng có quyền lựa chọn các thành viên của Chính phủ hay không còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa Tổng thống và Thủ tướng, Tổng thống DeGaulle khá tin tưởng vào các Thủ tướng còn Tổng thống F.Mitterrand vào năm 1981 thì hầu như tự mình lựa chọn các thành viên của Chính phủ.

Khác với nền cộng hòa thứ ba, thứ tư, nền cộng hòa thứ năm với hiến pháp năm 1958 đã loại trừ Nghị viện ra khỏi thủ tục thành lập Chính phủ. Trong các nền cộng hòa trước Chính phủ phải được sự tấn phong của Nghị viện. Nghĩa là Tổng thống phải đệ trình danh sách các thành viên của Chính phủ ra nghị viện. Chỉ sau khi được Nghị viện bỏ phiếu tín nhiệm với kết quả đa số tuyệt đối thì tổng thống mới chính thức bổ nhiệm các thành viên Chính phủ. Với nền cộng hòa thứ năm Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra. Nguồn gốc quyền lực của tổng thống không phải xuất phát từ Nghị viện mà xuất phát từ nhân dân vì vậy, Tổng thống độc lập với Nghị viện. Sự độc lập này của Tổng thống là cơ sở của việc thành lập Chính phủ không cần sự tấn phong của Nghị viện.

2.2 Giải thể Chính phủ

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng nước Pháp không phải là một nước cộng hoà tổng thống mà Chính phủ có thể độc lập với Quốc hội; Chính phủ Pháp vừa chịu trách nhiệm trước Tổng thống vừa chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Quốc hội có thể bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ buộc Chính phủ phải giải tán. Quốc hội có thể bỏ phiếu tín nhiệm hoặc không tín nhiệm Chính phủ trong các trường hợp sau đây:

  • Thủ tướng Chính phủ đặt vân đề tín nhiệm Chính phủ trước Quốc hội khi yêu cầu Quốc hội ủng hộ chương trình của Chính phủ hay tuyên bố về đường lối chính trị chung của Chính phủ;
  • Chính phủ đặt vấn đề tín nhiệm mình trước Quốc hội khi Quốc hội bác bỏ dự luật do Chính phủ đệ trình;
  • Khi có không ít hơn 1/10 thành viên của Quốc hội đề nghị biểu quyết không tín nhiệm Chính phủ.

Theo quy định tại Điều 50 Hiến pháp năm 1958 khi Quốc hội với đa số tuyệt đối không tín nhiệm Chính phủ hoặc với đa số tuyệt đối không thừa nhận chương trình hoặc tuyên bố về đường lối chính trị chung của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải đệ trình lên Tổng thống sự từ chức của Chính phủ Thông thường khi Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ buộc Chính phủ phải từ nhiệm thì Quốc hội có nguy cơ bị tổng thống giải tán vì vậy Quốc hội và Tổng thống thường thỏa hiệp với nhau để cùng tồn tại. Tuy vậy, trong thực tiễn cũng không ít trường hợp Quốc hội đã bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ buộc Chính phủ phải từ chức.

3. Thành phần của Chính phủ

Khái niệm chính quyền hành pháp trung ương ở Pháp bao gồm Tổng thống và Chính phủ. Có thể nói rằng đây là chính quyền hành pháp lưỡng đầu chế. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng khái niệm chính quyền hành pháp rộng hơn khái niệm Chính phủ bởi Chính phủ chỉ bao gồm Thủ tướng, các bộ trưởng và các quốc vụ khanh (Les Secretaires d’Etat).

Thủ tướng không phải là người đứng đầu chính quyền hành pháp mà chỉ là người đứng đầu Chính phủ. Trong Chính phủ Pháp có nhiều loại bộ trưởng khác nhau. Người ta có thể phân chia thành các loại bộ trưởng sau đây:

  1. Bộ trưởng Nhà nước (Ministre d’Etat): đây là các bộ trưởng của các bộ quan trọng nhất hoặc là hàm danh dự dành cho một nhân vật chính trị có uy tín lớn thuộc Đảng đang chiếm đa số ghế trong Nghị viện. Thông thường bộ trưởng Nhà nước là bộ trưởng của bốn bộ Ngoại giao, Nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp.
  2. Bộ trưởng đứng đầu các ngành (hiện nay ở Pháp có 19 Bộ trưởng đứng đầu các ngành) là các vị bộ trưởng lãnh đạo một ngành, một lĩnh vực nhất định.
  3. Bộ trưởng đặc trách bên cạnh thủ tướng hoặc bộ trưởng đặc trách bên cạnh Bộ trưởng (Les ministres délégés). Bộ trưởng đặc trách bên cạnh Thủ tướng thực hiện một số nhiệm vụ của Thủ tướng, chia sẻ gánh nặng của Thủ tướng. Vai trò của các vị bộ trưởng này như các phó thủ tướng. Các bộ trưởng đặc trách bên cạnhbộ trưởng thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt do bộ trưởng đó giao phó
  4. Thư ký Nhà nước (Quốc vụ khanh) có thể là những người phụ trách một lĩnh vực độc lập do Chính phủ giao phó cũng có thể là những người cố vấn đặc biệt làm việc cho thủ tướng hoặc thực hiện một phần công việc của bộ trưởng.

Chính phủ của bà Cresson thành lập 16/5/1991 bao gồm 5 bộ trưởng Nhà nước và 14 bộ trưởng khác phụ trách các ngành, 10 bộ trưởng đặc trách và 15 thư ký Nhà nước.

Để thực hiện hoạt động của mình Chính phủ thành lập ra Hội đồng bộ trưởng và Hội đổng liên bộ.

Hội đồng bộ trưởng là cơ quan tập thể của Chính phủ có đầy đủ thẩm quyền quyết định các công việc của Chính phủ. Nếu thành phần của Chính phủ bao gồm cả các quốc vụ khanh thì thành phần của Hội đồng bộ trưởng không có các quốc vụ khanh. Các quốc vụ khanh chỉ được mời dự họp khi vấn đề được bàn luận liên quan đến trách nhiệm của quốc vụ khanh đó.

Như vậy có thể thấy rằng thiết chế Hội đồng bộ trưởng có nét tương tự với thiết chế Nội các ở chỗ nó bao gồm các thành phần trung tâm và chủ yếu của Chính phủ. Ngoài Hội đồng bộ trưởng, Chính phủ còn có Hội đồng liên bộ bao gồm các bộ trưởng của một số ngành nhất định. Tổng thống chủ tọa các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng và Hội đổng liên bộ. Trường hợp Tổng thống vắng mặt hoặc được sự ủy nhiệm của Tổng thống thì Thủ tướng chủ tọa các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng và Hội đồng liên bộ.

4. Sự không kiêm nhiệm của các thành viên Chính phủ

Bộ trưởng và các quốc vụ khanh không được phép kiêm nhiệm bất kỳ một công việc mang tính chất hành nghề tư nhân nào. Các bộ trưởng và các quốc vụ khanh cũng không được phép kiêm nhiệm chức vụ nghị sĩ. Họ chỉ được phép kiêm nhiệm một chức vụ của dân biểu địa phương (thị trưởng, ủy viên hoặc chủ tịch hội đồng địa phương) hoặc tham gia giảng dạy ở các trường đại học.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê