1. Dàn Ý Chứng Minh Rằng Nước Đại Việt Ta Là Một Áng Văn Đầy Niềm Tự Hào Dân Tộc (Chuẩn)

1.1 Mở bài

- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Nêu vấn đề nhận định: Nước Đại Việt ta là một áng văn đầy niềm tự hào dân tộc

 

1.2 Thân bài

a. Niềm tự hào về truyền thống nhân nghĩa của dân tộc:
- Tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng lớn của nhân dân, đất nước từ bao đời, tiếp nối truyền thống tốt đẹp đó, tác giả cũng tỏ bày mục đích lớn nhất của quốc gia là "cốt ở yên dân".
- Mục đích: Tư tưởng "lấy dân làm gốc"- yên dân.
- Hành động: "trước lo trừ bạo" - Kẻ tàn ác- quân Minh bạo ngược, gây hấn lầm than, khổ cực cho nhân dân phải bị diệt trừ, nước an thì dân mới ấm.
=> Khẳng định việc tiên quyết là diệt trừ quân thù, bảo vệ đất nước. Đó cũng là mong cầu của bao thế hệ cha anh, của muôn triệu người dân Việt.
b. Niềm tự hào dân tộc thể hiện qua lời khẳng định chủ quyền, văn hiến, anh tài nhân kiệt của quốc gia Đại Việt:
- Bằng thủ pháp liệt kê, so sánh, đối chiếu giữa các triều đại cùng giọng thơ hào hùng, tác giả đã khẳng định vị trí của nước Đại Việt ta trong tương quan với các triều đại lớn.
- Đặt Đại Việt ngang hàng với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc.
- Đó là một Đại Việt mạnh mẽ, kiên cường, có văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, chủ quyền riêng với phong tập tập quán, những nét văn hoá riêng với đầy đủ những anh tài, nhân kiệt.
c. Niềm tự hào dân tộc thể hiện qua việc ngợi ca những chiến thắng hào hùng của nước Đại Việt.
- Những chiến công hào hùng đã lưu danh sử sách, thất bại của Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã là minh chứng tiêu biểu cho điều ấy.
- Lưu dấu cho những chiến công đó là các địa danh lịch sử như sông Bạch Đằng, cửa Hàm Tử.

 

1.3 Kết bài

- Khẳng định lại vẻ đẹp của đoạn thơ.
- Liên hệ bản thân.

 

2. Bài Văn Mẫu Chứng Minh Rằng Nước Đại Việt Ta Là Một Áng Văn Đầy Niềm Tự Hào Dân Tộc (Mẫu 1)

Trong văn học trung đại Việt Nam, tình yêu nước là một nguồn cảm hứng lớn, nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài của văn hóa, lịch sử. Đã có rất nhiều những bài thơ hay, những tác phẩm hào hùng thể hiện tình yêu đất nước, quyết tâm bảo vệ triều đại. Một trong những áng văn đầy niềm tự hào dân tộc đó là Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi.
Tác phẩm được sáng tác vào năm 1428, khi Nguyễn Trãi thừa lệnh thay lời Lê Lợi viết Đại cáo Bình Ngô để tuyên bố với nhân dân về chiến thắng của đất nước trước quân Minh, giặc ngoại xâm tan rã, nước nhà được độc lập. Bài cáo như một bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ 2 của dân tộc sau Nam quốc sơn hà. Đoạn trích "Nước đại việt ta" trong tác phẩm là một áng văn chứa chan niềm tự hào dân tộc.
Trước hết, tác giả thể hiện niềm tự hào về truyền thống nhân nghĩa của dân tộc:
"Từng nghe
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo".
Tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng lớn của nhân dân, đất nước từ bao đời, tiếp nối truyền thống tốt đẹp đó, tác giả cũng tỏ bày mục đích lớn nhất của quốc gia là "cốt ở yên dân". Lấy dân làm gốc, mọi hành động cần bắt nguồn từ dân nhằm mang đến bình yên, hạnh phúc cho nhân dân. Việc nhân nghĩa nhất là việc làm vì cuộc sống ấm no, thái bình, thịnh trị của nhân dân. Ý chí dân tộc là phải trừ gian, diệt ác, mang lại cuộc sống an ổn cho người người, nhà nhà. Dân muốn yên thì giặc phải đánh, "trước lo trừ bạo" là thế. Kẻ tàn ác- quân Minh bạo ngược, gây hấn lầm than, khổ cực cho nhân dân phải bị diệt trừ, nước an thì dân mới ấm. Phép đối trong hai câu thơ kết hợp hài hoà cùng giọng văn đầy hùng hồn, tác giả đã nhấn mạnh, khẳng định việc tiên quyết là diệt trừ quân thù, bảo vệ đất nước. Đó cũng là mong cầu của bao thế hệ cha anh, của muôn triệu người dân Việt.
Lòng tự hào dân tộc còn được thể hiện qua lời khẳng định chủ quyền, văn hiến, anh tài nhân kiệt của quốc gia, dân tộc.
"Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Dường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhauSong hào kiệt đời nào cũng có"
Bằng thủ pháp liệt kê, so sánh, đối chiếu giữa các triều đại cùng giọng thơ hào hùng, tác giả đã khẳng định vị trí của nước Đại Việt ta trên trường quốc ta, ngang hàng với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc. Đó là một quốc gia mạnh mẽ, kiên cường, có văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, chủ quyền riêng với phong tập tập quán, những nét văn hoá riêng. Các quốc gia khác phải tôn trọng lãnh thổ đất Việt, không có quyền xâm phạm, giày xéo. Không chỉ là một Đại Việt có lịch sử lâu đời, có nền độc lập riêng, Đại Việt ta còn tự hào với bao thế hệ anh tài, những nhân kiệt nơi nơi, từ vùng núi đến đồng bằng, từ biển cả đến non cao, đâu đâu cũng có những người hùng dũng cảm, tài trí và yêu quê hương:
"Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có"
Hơn thế nữa, niềm tự hào dân tộc còn được Nguyễn Trãi thể hiện qua việc ngợi ca những chiến thắng hào hùng của nước Đại Việt, qua sức mạnh của chính nghĩa trên những trận chiến không khoan nhượng giữa ta và địch:
"Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi"
Những chiến công hào hùng đã lưu danh sử sách, thất bại của Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã là minh chứng tiêu biểu cho điều ấy. Lưu dấu cho những chiến công đó là các địa danh lịch sử như sông Bạch Đằng, cửa Hàm Tử, không chỉ con người tham gia vào cuộc chiến chính nghĩa mà cả đất nước, non sông cùng chiến đấu, lưu danh sử sách với chiến công hùng hồn.
Niềm tự hào dân tộc toát ra trong từng lời thơ, tứ thơ. Qua đoạn trích, chúng ta thêm tự hào về thế hệ cha anh đi trước, tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc. Tin rằng, những học sinh như chúng ta và thế hệ mai sau sẽ noi gương người đi trước, học tập, trở thành những người công dân có ích để dựng xây đất nước, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

 

3. Bài Văn Mẫu Làm Sáng Tỏ Nhận Định Nước Đại Việt Ta Là Áng Văn Tràn Đầy Lòng Tự Hào Dân Tộc (Mẫu 2)

"Nước Đại Việt ta" là đoạn trích tiêu biểu trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Tác phẩm không chỉ giàu giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa tư tưởng lớn, và có thể nói rằng đoạn trích "Nước Đại Việt ta" là một áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc.
Nếu từ xa xưa, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều phương diện. Đó là tinh thần hi sinh không ngại hiểm nguy, là niềm tự hào về lòng đoàn kết, anh dũng của dân tộc. Đó còn là sự tự hào về vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, thì đến với "Nước Đại Việt ta'', lòng tự hào ấy được biểu hiện bằng những cách rất độc đáo và sâu sắc.
Thứ nhất, tư tưởng cốt lõi của mọi quốc gia, dân tộc là tư tưởng nhân nghĩa.. Một quốc gia thái bình, thịnh trị là một quốc gia mà nhân dân được ấm no, yên ổn, vững bền.
" Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Nhân dân là nguồn cội, là gốc của một nước. Việc nhân nghĩa, chính đáng nhất là hành động vì nhân dân, bảo vệ nhân dân của mình. Muốn được dân yên thì phải trừ bạo, hành động phi nghĩa của quân giặc chính là bạo loạn, dẹp được giặc thì nhân dân mới an yên, cuộc sống mới phát triển, tốt đẹp. Lòng tự hào dân tộc thể hiện ở cốt cách, lý tưởng cao đẹp là chiến đấu hết mình vì dân, vì nước.
Thứ hai, lòng tự hào dân tộc còn được thể hiện ở sự khẳng định chủ quyền, ý thức về độc lập, nét đẹp văn hoá riêng của dân tộc mình:
" Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
Bao đời xây nền độc lập
...
Song hào kiệt đời nào cũng có."
Tác giả cất lên tiếng thơ đầy kiên quyết và tự hào về đất nước mình. Một quốc gia có nền văn hiến từ ngàn xưa không ai chối cãi, một đất nước có lãnh thổ riêng, có chế độ riêng từ bao đời được chứng minh qua bao thời kì lịch sử độc lập. Một dân tộc với những phong tục tập quán riêng biệt, với bao người hiền tài, hào kiệt, anh hùng. Một đất nước có văn hiến, phong tục, lịch sử, nhân tài, thì đó là một quốc gia mạnh mẽ và bền vững, một quốc gia có cương vực lãnh thổ riêng thì không ai có quyền xâm phạm vào bờ cõi, núi sông nơi đây. Nếu phương Bắc có Hán Đường, Tống, Nguyên giàu mạnh, thì nước ta cũng trải qua bao triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần cũng thịnh trị không kém. Mỗi phương có một thế mạnh riêng, bờ cõi riêng, lẽ gì sang xâm phạm.
Bằng lý lẽ thuyết phục, dẫn chứng khách quan, ngôn ngữ giọng điệu linh hoạt Nguyễn Trãi đã thể hiện niềm tự hào dân tộc mình một cách đầy sâu sắc. Đó không chỉ là niềm tự hào về lý tưởng, về những giá trị văn hóa lâu bền của dân tộc mà còn là niềm tự hào về con người nước Nam, nhân dân nước Nam với truyền thống anh hùng, hào kiệt, anh tài. Là sự ý thức ở mức cao nhất về giá trị cốt lõi của một đất nước là giá trị của con người, của nhân dân.