1. Khái quát về Viện Công tố Nhật Bản

Theo quy định của Hiến pháp, Viện công tố Nhật Bản là cơ quan thuộc nhánh quyền hành pháp. Toàn bộ hệ thống cơ quan Công tố và các Công tố viên nằm dưới sự chỉ đạo, giám sát chung về mặt quản lý hành chính nhà nước của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Song trong thực tế thì Viện công tố có ảnh hưởng rất lớn trong Bộ Tư pháp Nhật Bản, Tổng trưởng công tố, người đứng đầu hệ thống công tố là người lãnh đạo, điều hành toàn bộ hệ thống công tố. Vai trò của Bộ trưởng bộ Tư pháp chỉ mang tính hình thức vì Bộ trưởng bộ Tư pháp là người đứng đầu ngành Tư pháp nhưng không có quyền can thiệp vào hoạt động công tố và từng vụ án cụ thể. Trong công việc, các Công tố viên hoàn toàn độc lập và chỉ phải chịu trách nhiệm trực tiếp với cơ quan Công tố cấp trên của mình. Một điều rất đáng chú ý là các vị trí then chốt trong Bộ Tư pháp hầu như do các Công tố viên nắm giữ. Điều đó cho thấy Công tố viên có vai trò rất lớn trong Bộ Tư pháp Nhật Bản. Hệ thống tổ chức của Viện Công tố Nhật bản được tổ chức tương ứng với hệ thống Tòa án và được chia thành 4 cấp gồm Viện công tố trung ương (tối cao), Viện công tố cấp cao, Viện công tố cấp quận và Viện công tố địa phương (khu vực). Các chức danh tư pháp trong Viện công tố Nhật Bản gồm: Tổng trưởng công tố, Phó Tổng trưởng công tố, Công tố viên và trợ lý Công tố viên. Tổng trưởng công tố là người đứng đầu Viện công tố trung ương có nhiệm vụ điều hành công việc, kiểm tra, giám sát cán bộ trong Viện công tố trung ương và hệ thống công tố cấp dưới. Phó Tổng trưởng Công tố chịu trách nhiệm trước Tổng trưởng Công tố, giúp việc cho Tổng trưởng công tố. Công tố viên được phân công công tác tại Viện công tố trung ương, Viện công tố cấp cao hoặc Viện công tố cấp quận và cấp khu vực có nhiệm vụ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và các nhiệm vụ khác theo sự phân công.

2. Hệ thống tổ chức của Viện công tố Nhật Bản

Hệ thống tổ chức của Viện công tố Nhật Bản được tổ chức t­ương ứng hệ thống tổ chức của Toà án và được chia thành 4 cấp. Chức năng, nhiệm vụ mỗi cấp được quy định như sau:

Cấp cao nhất là Viện công tố trung ương, có thẩm quyền xử lý, thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự bị kháng cáo, kháng nghị đưa ra xét xử tại Toà án tối cao.

Cấp thứ hai là Viện công tố cấp cao bao gồm 8 viện được tổ chức ở 8 vùng: Tokyo, Oaska, Nagoya, Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takamatsu. Cơ quan công tố cấp cao giải quyết các bản án, quyết định hình sự bị kháng cáo, kháng nghị của Toà án địa phương, Toà án gia đình và được đưa ra xét xử tại 8 Toà cấp cao.

Cấp thứ ba là Viện công tố cấp quận (50 Viện) đặt tại các tỉnh có thẩm quyền xử lý và thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án cấp quận và Toà gia đình.

Cấp thứ tư là các Viện công tố khu vực có nhiệm vụ xử lý và thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự tại các Toà án giản lược (Toà án giản lược có thẩm quyền xét xử đối với các vụ án hình sự mà hình phạt cao nhất có thể áp dụng không quá 03 năm tù).

3. Hoạt động của các chức danh tư pháp trong Viện công tố

Các chức danh tư pháp trong Viện công tố bao gồm: Tổng trưởng công tố, Phó tổng trưởng công tố, Công tố viên trưởng, Công tố viên và trợ lý công tố viên.  Họ được bổ nhiệm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện công tố. Chủ yếu thực hiện trong hai lĩnh vực hình sự và dân sự:

Trong lĩnh vực hình sự, Viện công tố thực hiện chức năng điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại Toà án và giám sát việc thi hành hình phạt. Trên thực tế đối với hoạt động điều tra, Viện công tố thực hiện hoạt động điều tra bổ sung sau khi cảnh sát chuyển hồ sơ vụ án đến Viện công tố đối với các vụ án nghiêm trọng, vụ án liên quan đến tội phạm tham nhũng, tội phạm về kinh tế quy mô lớn. Các vụ án ít nghiêm trọng hoặc giản đơn thì không cần thiết phải điều tra bổ sung, Công tố viên của Viện công tố sẽ quyết định truy tố hoặc không truy tố, nếu đủ điều kiện truy tố thì thực hành quyền công tố trước Toà án. Việc quyết định các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế tố tụng do các cơ quan Điều tra đề xuất với Toà án và Toà án là cơ quan quyết định. Nếu vụ việc được đưa ra truy tố, việc truy tố gồm hai loại: yêu cầu ban hành một lệnh giản lược hoặc yêu cầu mở phiên toà xét xử. Thông thường yêu cầu ban hành một lệnh giản lược là thủ tục đối với những vụ án mà tội phạm đã rõ ràng, đơn giản theo yêu cầu của Công tố viên, Toà án giản lược sẽ ra phán quyết mà không cần mở phiên toà xét xử công khai. Đối với yêu cầu mở phiên toà xét xử được thể hiện trong quyết định truy tố của Viện công tố. Thủ tục truy tố và tranh tụng tại phiên toà do Công tố viên đại diện cho Viện công tố thực hiện và áp dụng theo mô hình tố tụng tranh tụng, Công tố viên và Luật sư bào chữa bình đẳng tranh luận về việc bị cáo có tội hay không có tội và mức hình phạt.

Trong các lĩnh vực phi hình sự, Viện công tố có vai trò như đại diện cho lợi ích công, thực hiện các hoạt động mang tính chất hỗ trợ, đại diện cho các đương sự không có khả năng thực hiện quyền chủ thể. Ngoài ra, Công tố viên của Nhật Bản được pháp luật giao một số nhiệm vụ, quyền hạn như: làm nguyên đơn khởi kiện hoặc bị đơn cho những chủ thể không có khả năng thực hiện quyền của mình như trẻ vị thành niên, người mất tích, người đã chết, đề nghị huỷ bỏ một cuộc hôn nhân bất hợp pháp… tuy nhiên thẩm quyền này của cơ quan công tố ít thực hiện vì không phổ biến.

4. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Công tố viên tại Nhật Bản

Công tố viên của Viện công tố Nhật Bản bao gồm: Tổng trưởng Công tố, Công tố viên trưởng cấp cao, Công tố viên trưởng, Công tố viên và Trợ lý công tố viên. Trong đó, Tổng trưởng Công tố là người đứng đầu Viện Công tố trung ương có nhiệm vụ điều hành công việc, kiểm tra, giám sát cán bộ trong Viện Công tố trung ương và hệ thống công tố cấp dưới. Phó Tổng trưởng Công tố chịu trách nhiệm trước Tổng trưởng Công tố, giúp việc cho Tổng trưởng Công tố. Trong trường hợp Tổng trưởng Công tố bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc vị trí Tổng trưởng Công tố chưa có người đảm nhiệm thì Phó tổng trưởng Công tố thực hiện chức năng của Tổng trưởng Công tố. Công tố viên trưởng là người đứng đầu Viện Công tố cấp cao và Viện Công tố cấp quận. Tại Viện Công tố Trung ương và Viện công tố cấp cao, Viện Công tố cấp quận và cấp khu vực đều có sự hiện diện của Công tố viên. Ngoài ra, tại các cơ quan công tố khu vực có các trợ lý công tố viên là những người có nhiệm vụ điều tra các vụ án hình sự, truy tố hoặc giám sát thi hành án.

Theo quy định của pháp luật Nhật Bản, đội ngũ cán bộ tư pháp trong đó có Công tố viên đều được tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng bằng tiêu chí: Công dân Nhật Bản, trung thành với Hiến pháp, có đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đã tốt nghiệp các trường đại học của Nhật, tiếp đó phải tham gia học ở Trường Luật (Law School) trong thời gian 02 năm đối với những người đã tốt nghiệp các trường đại học Luật hoặc chuyên ngành Luật của của Nhật và 03 năm đối với những người tốt nghiệp trường khác không phải chuyên ngành Luật. Trong thời gian học tại Trường Law School sẽ được đào tạo lý luận và thực tiễn về những vấn đề liên quan đến nghiệp vụ. Các môn Luật cơ bản gồm có Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự, Luật thương mại, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự; môn thực hành cơ bản thường sử dụng các phiên tòa giả định; ngoài ra học viên còn được học các môn học khác như kinh tế học, kế toán, luật sở hữu trí tuệ, đạo luật phá sản, luật gia đình. Đội ngũ giảng dạy là những giáo sư, tiến sỹ chuyên ngành và những người làm công tác pháp luật như Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư. Sau khi trải qua khóa học và kiểm tra kiến thức nghiêm ngặt mà đạt kết quả thì mới đủ điều kiện tham gia kỳ thi tư pháp quốc gia.

Đối với những ứng viên có kiến thức giỏi hoặc không có thời gian và kinh phí để trải qua 02 hoặc 03 năm học ở Law School thì có thể tham gia kỳ thi tư pháp trù bị, nếu thi đỗ kì thi tư pháp trù bị thì mới đủ điều kiện tham gia kỳ thi tư pháp quốc gia.

Các ứng viên sau khi thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia thì sẽ tiếp tục được đào tạo ở Học viện tư pháp (Viện nghiên cứu và đào tạo luật thuộc Bộ Tư pháp) về các nội dung: Xét xử hình sự, xét xử dân sự, kiểm sát, bào chữa dân sự và bào chữa hình sự. Sau đó các thí sinh được cử đi thực tập tại Tòa án hoặc Viện công tố địa phương hoặc Hội luật sư. Trong quá trình thực tập các thí sinh phải thực hành tất cả các nghiệp vụ mà mình đã được đào tạo tập trung. Kết thúc chương trình thực tập các thí sinh sẽ đối mặt với kỳ thi tốt nghiệp. Sau khi đỗ kỳ thi tốt nghiệp ở Học viện tư pháp do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý sẽ được bổ nhiệm Công tố viên hoặc Thẩm phán hoặc hành nghề Luật sư biện hộ tùy theo nhu cầu chuyên môn nghiệp vụ của mình để lựa chọn vị trí việc làm cho phù hợp. Với chức danh Công tố viên, Thẩm phán được nhận vào làm việc ở Viện công tố và Tòa án.

Đối với Công tố viên trưởng ngoài đáp ứng các tiêu chuẩn chung thì phải có ít nhất 5 năm hành nghề Công tố viên, phải có trình độ năng lực hướng dẫn nghiệp vụ đối với Công tố viên và đảm bảo các nhiệm vụ khác theo vị trí việc làm đảm nhận.

Đối với Công tố viên cấp cao ngoài đáp ứng các tiêu chuẩn chung thì phải có ít nhất 5 năm hành nghề Công tố viên trưởng, phải có trình độ năng lực nhất định, các kỹ năng chuyên môn chuyên sâu về điều tra, xử lý, điêu hành đối với các vụ án cần nghiên cứu đặc biệt… phù hợp với vị trí việc làm đảm nhận.

Đối với Tổng trưởng công tố, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung thì phải có ít nhất 7 đến 10 năm hành nghề Công tố viên cấp cao và có kỹ năng chỉ đạo, điều hành giải quyết các công việc quan trọng, phức tạp.

Ở Nhật Bản, Thẩm phán và Công tố viên nếu không muốn làm việc trong khu vực Nhà nước thì đều có thể xin ra ngoài làm việc với tư cách luật sư. Ngược lại, một Luật sư, Công tố viên hay Giáo sư các trường đại học Luật, chuyên gia pháp lý cấp cao cũng đều có thể là nguồn để được lựa chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán. Các Thẩm phán, Luật sư, Cảnh sát điều tra cũng có thể được trở thành Công tố viên mà không phải trải qua các quy định thực tập, luân chuyển cán bộ trong các cơ quan của Viện kiểm sát vì họ đều đã trải qua các kỳ thi các chức danh tư pháp.

Ở Nhật Bản hiện nay, trong số những người hành nghề luật thì Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư là 3 chức danh đang được quan tâm và thu hút nhiều sự chú ý của cả Chính phủ và nhân dân bởi đây là những cán bộ làm việc trong hệ thống tư pháp. Chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và kiến thức văn hóa, tính nhân văn, kinh nghiệm làm việc là những yêu cầu đối với đội ngũ này trong tiến trình cải cách tư pháp và phát triển toàn diện đất nước.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Công tố viên Nhật Bản

Trong lĩnh vực hình sự, Công tố viên Viện công tố Nhật Bản có thẩm quyền điều tra tất cả các vụ án hình sự, tuy nhiên trong thực tế, Công tố viên chỉ thực hiện các hoạt động điều tra bổ sung sau khi cảnh sát chuyển hồ sơ vụ án đến Viện công tố đối với vụ án nghiêm trọng, vụ án liên quan đến tội phạm tham nhũng, tội phạm về kinh tế quy mô lớn. Đối với các vụ án ít nghiêm trọng hoặc đơn giản chưa cần thiết phải điều tra bổ sung thì Công tố viên sẽ quyết định truy tố hay không truy tố, trong trường hợp nếu vụ án đủ điều kiện truy tố thì Công tố viên thực hành quyền công tố trước Tòa án.

Công tố viên tham gia vào tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ điều tra tội phạm đến thực thực hành quyền công tố tại phiên tòa, khi thực hiện nhiệm vụ có quyền độc lập và tự chịu trách nhiệm trong tiến hành điều tra, truy tố, thực hiện quyền công tố tại phiên tòa. Các Công tố viên luôn tuân thủ nguyên tắc chỉ khi nào có đủ chứng cứ xác đáng về việc bị cáo có tội thì mới quyết định truy tố, bên cạnh đó Công tố viên còn dựa trên nguyên tắc tùy nghi truy tố nên vai trò của công tố viên trong tư pháp hình sự là vô cùng lớn. Ngoài ra, Công tố viên Viện Công tố Nhật Bản còn giám sát việc thi hành hình phạt (ở Việt Nam nhiệm vụ này của Kiểm sát viên gọi là kiểm sát thi hành án).

Trong quan hệ với Cơ quan điều tra, Công tố viên vừa đóng vai trò là người chỉ đạo, giám sát điều tra, vừa phối hợp với Điều tra viên. Công tố viên không những được quyền chỉ huy, chỉ đạo từ xa hoặc chỉ đạo cụ thể đối với Điều tra viên của Cảnh sát mà còn có thẩm quyền yêu cầu xử lý kỷ luật Điều tra viên của lực lượng Cảnh sát trong trường hợp Điều tra viên không tuân thủ chỉ đạo của Công tố viên.

Trong lĩnh vực phi hình sự, Công tố viên có vai trò như người đại diện cho lợi ích công, thực hiện các hoạt động mang tính chất hỗ trợ, đại diện cho các đương sự không có khả năng thực hiện quyền chủ thể.

Ngoài ra, Công tố viên Viện công tố Nhật Bản còn được pháp luật giao cho một số nhiệm vụ, quyền hạn như: Làm nguyên đơn khởi kiện hoặc bị đơn cho những chủ thể không có khả năng thực hiện quyền của mình như trẻ vị thành niên, người mất tích, người đã chết, đề nghị hủy bỏ một cuộc hôn nhân bất hợp pháp…. Tuy nhiên trong thực tế những thẩm quyền này Công tố viên rất ít khi phải thực thi vì không phổ biến.

Trong quá trình thực hiện được chức năng chuyên môn, địa vị của Công tố viên được bảo vệ vững chắc để việc thực hành quyền công tố không bị ảnh hưởng bởi áp lực chính trị. Công tố viên hoàn toàn độc lập, không bị đe dọa, ngăn cản, quấy rầy, can thiệp trái phép hay phải chịu trách nhiệm một cách vô lý về dân sự, hình sự hay các trách nhiệm khác. Bản thân Công tố viên và gia đình họ luôn được các cơ quan chức năng bảo vệ về thân thể khi sự an toàn cá nhân của họ bị đe dọa do thực hiện các chức năng công tố. đây là một đặc quyền rất lớn của Công tố viên Nhật Bản. Các công tố viên được bảo vệ địa vị vững chắc để việc thực hành quyền công tố không bị ảnh hưởng bởi áp lực chính trị.