1. Quy định chung về hội đồng trọng tài
Hội đồng trọng tài là bộ phận chuyên trách giải quyết tranh chấp thương mại trong trung tâm trọng tài thương mại gồm một hoặc một số trọng tài viên, được thành lập theo sự chỉ định của các bên tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật về trọng tài và quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài để giải quyết vụ việc.
Hội đồng trọng tài có thể theo sự thỏa thuận của các bên bao gồm một hoặc nhiều trọng tài viên nhưng phải là số lẻ. Nếu các bên không có thoả thuận về số lượng Trọng tài viên thì Hội đồng trọng tài bao gồm ba Trọng tài viên.
Có hai loại hội đồng trọng tài là hội đồng trọng tài được thành lập tại trung tâm trọng tài thương mại (hội đồng trọng tài vụ việc) và hội đồng trọng tài do các bên thành lập (hội đồng trọng tài quy chế).
Các bên tranh chấp được phép thỏa thuận về số lượng trọng tài viên trong hội đồng trọng tài, tuy nhiên hội đồng trọng tài luôn bao gồm một số lẻ các trọng tài viên (thường là một hoặc ba trọng tài viên). Điều này đảm bảo cho việc thảo luận và ra các quyết định, phán quyết của hội đồng trọng tài có tính khả thi. Khoản 1 Điều 1026 Bộ luật Tố tụng dân sự Hà Lan 2015 nêu rõ: "Hội đồng trọng tài bao gồm một số lẻ các trọng tài viên. Hội đồng trọng tài cũng có thế bao gồm một trọng tài viên." Khoản 3 Điều luật này quy định thêm: "Nếu các bên đã thỏa thuận một số chẵn các trọng tài viên thì các trọng tài viên này sẽ chọn thêm một trọng tài viên nữ làm chủ tịch hội đồng trọng tài." Điều 10 Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định: "1. Các bên được tự do quyết định về số lượng trọng tài viên... 2. Nếu các bên không tự quyết định, số lượng trọng tài viên sẽ là 3 người." Tương tự, Điều 7 Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL 2010 quy định: "Nếu các bên không thỏa thuận trước về số lượng trọng tài viên, và nếu trong thời hạn 30 ngày sau khi bị đơn nhận được thông báo ra trọng tài mà các bên không thoả thuận được với nhau việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài viên duy nhất thì ba trọng tài viên sẽ giải quyết tranh chấp."
Điều 39 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 quy định:
"1. Thành phần Hội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều trọng tài viên theo sự thỏa thuận của các bên;
2. Trường hợp các bên không có thoả thuận về số lượng trọng tài viên thì Hội đồng trọng tài bao gồm ba trọng tài viên."
2. Thành lập hội đồng trọng tài quy chế
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu chọn Trọng tài viên do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên cho mình và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên. Nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn.
Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định Trọng tài viên duy nhất.
3. Thành lập hội đồng trọng tài vụ việc đúng pháp luật
Nguyên đơn chọn một trọng tài viên cho mình, sau đó bị đơn cũng phải chọn một trọng tài viên cho mình. Nếu bị đơn không chọn trọng tài viên cho mình trong thời hạn quy định, nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Hai trọng tài viên này phải thống nhất chọn một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Nếu không thoả thuận chọn được trọng tài viên thứ ba, các bên có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết, nhưng không chọn được trọng tài viên duy nhất thì theo yêu cầu của một bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền sẽ chỉ định trọng tài viên duy nhất cho các bên. Quy trình thiết lập hội đồng trọng tài này được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật trọng tài trên thế giới. Chẳng hạn khoản 3 Điều 11 Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định:
3. Nếu không có thoả thuận của các bên:
a. Trong trọng tài với ba trọng tài viên, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài viên, và hai trọng tài viên được chỉ định sẽ bầu trọng tài viên thứ ba; nếu một bên không chỉ định trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu làm như vậy của phía bên kia hoặc nếu hai trọng tài viên không thoả thuận được trọng tài viên thứ ba trong vòng 30 ngày kể từ ngày họ được chỉ định, căn cứ yêu cầu của một bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ tiến hành chỉ định.
b. Trong trọng tài viên với một trọng tài viên duy nhất, nếu các bên không thể thoả thuận chọn trọng tài viên này, căn cứ vào yêu cầu của một bên, toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ tiến hành chỉ định trọng tài viên duy nhất này.
Theo Điều 12 và Điều 13 Quy tắc VIAC, trong trường hợp các bên không thống nhất được việc chọn Trọng tài viên hoặc Bị đơn không chọn Trọng tài viên, không yêu cầu VIAC chỉ định Trọng tài viên thì Chủ tịch VIAC sẽ ra quyết định chỉ định Trọng tài viên thay cho các bên. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn mà bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình lựa chọn, nếu nguyên đơn có yêu cầu thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;
- Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, khi hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn cuối cùng nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, mà các bị đơn không thống nhất được việc chọn Trọng tài viên, nếu một hoặc các bên có yêu cầu thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;
- Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định mà các Trọng tài viên này không bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài, nếu một hoặc các bên có yêu cầu thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài cho các bên;
- Trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên duy nhất mà đã hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn cuối cùng nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên. Tòa án có thẩm quyền thông báo ngay cho các bên tranh chấp, Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc được lựa chọn về việc thụ lý vụ việc và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc.
4. Hội đồng Trọng tài có thẩm quyền thu thập chứng cứ hay không?
Theo Điều 46 Luật Trọng tài thương mại 2010, các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng trọng tài và theo yêu cầu của một hoặc các bên, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan, có quyền trưng cầu giám định, định giá tài sản, có quyền tham vấn ý kiến chuyên gia và nếu đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thu thập được chứng cứ, Hội đồng trọng tài có thể gửi đơn yêu cầu Toà án hỗ trợ.
5. Hội đồng trọng tài có thẩm quyền triệu tập người làm chứng hay không?
Theo quy định tại Điều 47 Luật Trọng tài thương mại 2010 thì thẩm quyền của Hội đồng trọng tài về triệu tập người làm chứng được quy định cụ thể như sau:
- Theo yêu cầu của một hoặc các bên và xét thấy cần thiết, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp. Chi phí cho người làm chứng do bên yêu cầu triệu tập người làm chứng chịu hoặc do Hội đồng trọng tài phân bổ.
Trường hợp người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp, thì Hội đồng trọng tài gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài. Văn bản phải nêu rõ nội dung vụ việc đang được giải quyết tại Trọng tài; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng; lý do cần triệu tập người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng cần phải có mặt.
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị triệu tập người làm chứng của Hội đồng trọng tài, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu triệu tập người làm chứng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải ra quyết định triệu tập người làm chứng.
Quyết định triệu tập người làm chứng phải ghi rõ tên Hội đồng trọng tài yêu cầu triệu tập người làm chứng; nội dung vụ tranh chấp; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài.
Tòa án phải gửi ngay quyết định này cho Hội đồng trọng tài, người làm chứng đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng có nghĩa vụ nghiêm chỉnh thi hành quyết định của Tòa án.
Chi phí cho người làm chứng được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Luật Minh Khuê - Biên tập và Sưu tầm