CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Khái niệm cơ quan bảo hiến:

​Bất kỳ quốc gia nào xây dựng nhà nước pháp quyền cũng phải bảo vệ Hiến pháp vì đó là đạo luật cơ bản của nhà nước, được xây dựng với một thủ tục đặc biệt, quy định những vấn đề cơ bản nhất mang tính nguyên tắc của toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia.

Trên thế giới có nhiều mô hình cơ quan bảo hiến, tuy nhiên chúng ta có thể sắp xếp chúng thành ba mô hình cơ bản sau đây:

  • Toà án tối cao và toà án các cấp có chức năng bảo vệ Hiến pháp - Mô hình Hoa Kỳ (Hoa Kỳ, Argentina, Mexico, Hy Lạp, úc, An Độ, Nhật Bản, Thụy Điển, Đan Mạch...). Trong mô hình này một số nước quy định chỉ có Toà án tối cao mới có chức năng bảo vệ Hiến pháp (Gana, Namibia, Papua New Guinea, Srilanka, Estonia...).
  • Thành lập Toà án Hiến pháp (Constitutional court) hoặc Hội đồng bảo hiến (Constitutional Counsil) để bảo vệ Hiến pháp - Mô hình lục địa châu Au (Ao, Italia, Đức, Nga, Pháp, Ukraina, Ba Lan, Thái Lans, Campuchia...) Tuy nhiên trong các nước lục địa châu Âu có Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ là hai nước kết họp cả mô hình của Hoa Kỳ và lục địa châu Âu...).
  • Cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến (Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba...).

2. Các đặc điểm cơ bản của mô hình bảo hiến:

Mô hình bảo hiến của Hoa Kỳ có các đặc điểm cơ bản sau đây:

- Tất cả các toà án đều có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật.

Ở Mỹ và những nước áp dụng theo mô hình của Mỹ tất cả các cơ quan toà án đều có quyền xem xét tính hợp hiến của một đạo luật khi trong một vụ việc họ phải áp dụng đạo luật đó. Toà án có quyền không áp dụng đạo luật đó khi có cơ sở chắc chắn rằng nó không phù hợp với Hiến pháp.

- Quyền bảo hiến gắn với việc giải quyết một vụ việc cụ thể (Concrete judicial review).

Quyền giám sát tư pháp về tính hợp hiến của một đạo luật dù được thực hiện ở Toà án tối cao hoặc toà án cấp thấp đều phải được thực hiện trong điều kiện của một vụ kiện tụng cụ thể khi mà vấn đề họp hiến của đạo luật có liên quan và cần thiết trong việc giải quyết vụ việc đó.

- Quyền bảo hiến chỉ được xem xét khi có sự liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của đương sự đề nghị xem xét tính hợp hiến của đạo luật đó.

Quy định này được toà án tối cao giải thích là nếu không có những quy định này thì phạm vi quyền giám sát sẽ rất rộng và mang tính trừu tượng thì sẽ kém hiệu quả.

-Toà án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi sự bất hợp hiến của đạo luật đó được chứng minh rõ ràng và không thể phủ nhận được.

Trong vụ án Fletcher V. Peck (1910) Chánh án Toà án tối cao Hoa kỳ John Marshall đã khẳng định rằng sự trái ngược của Hiến pháp và một đạo luật chỉ được xem xét trong điều kiện các thẩm phán thấy sự trái ngược đó một cách rõ ràng và toà án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi sự tuyên bố đó là hoàn toàn cần thiết để giải quyết vụ án. Điều này cũng có nghĩa là Toà án sẽ không xem xét tính hợp hiến của một đạo luật nếu Toà án có cách khác làm thỏa mãn yêu cầu của đương sự.

-Toà án không xem xét vấn đề hợp hiến của một đạo luật khi đạo luật đó liên quan đến một số vấn đề chính trị như tổ chức công quyền và vạn đề ngoại giao....

Các toà án ở Hoa Kỳ kể cả Toà án tối cao sẽ không xem xét tính hợp hiến của một đạo luật, nếu đạo luật đó liên quan đến các vấn đề chính trị như công việc đối nội, đối ngoại của chính phủ, hình thức tổ chức quyền lực của các tiểu bang, mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực của nhà nước liên bang và các tiểu bang. Tuy nhiên, Toà án tối cao của liên bang lại có quyền xem xét một vâh đề nào đó có phải là vấh đề chính trị hay không, một hành vi chính trị nào đó có lạm quyền hay không.

- Khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến thì đạo luật đó không còn giá trị áp dụng.

Theo nguyên tắc án lệ, khi Toà án tối cao tuyên bố một đạo luật là vi hiến thì phán quyết này của Toà án tối cao sẽ có giá trị áp dụng đối với các vụ án tương tự sau này của các toà án cấp dưới. Do đó trên thực tế, có thể coi đạo luật đó không còn giá trị áp dụng nữa.

3. Một số mô hình bảo hiến ở các nước:

3.1 Ở Pháp

Sở dĩ gọi là mô hình Pháp vì mẫu hình của nó là Hội đồng Hiến pháp của Pháp (Conseil Constitutionnel), được thành lập từ năm 1958, có chức năng là một cơ quan bảo hiến. Ở một số nước khác theo mô hình này, Tòa án tối cao cũng có thể là cơ quan bảo hiến, tuy nhiên, trong trường hợp này phán quyết của Tòa chủ yếu chỉ mang tính tham vấn (trừ những vụ việc liên quan đến bầu cử).

Ở Pháp toà án Hiến pháp được gọi là Hội đồng bảo hiến (Conseil Constitutionnel). Hộí đồng bảo hiến được thành lập theo Hiến pháp 1958. Hội đổng bảo hiến bao gồm 9 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm 1/3, Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm 1/3, Chủ tịch Hạ viện bổ nhiệm 1/3 với nhiệm kỳ 9 năm và các thành viên không ai được phép giữ chức vụ này quá một nhiệm kỳ.

Ngoài 9 thành viên nói trên, các cựu Tổng pháp (nếu không từ chối) đều là thành viên của Hội đổng bảo hiến.

Chức năng của Hội đổng bảo hiến là kiểm soát tính hợp hiến của luật tuy nhiên Hội đồng chỉ xem xét vụ việc khi có đơn đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện, 60 Thượng nghị sĩ hoặc 60 Hạ nghị sĩ.

3.2 Ở Mỹ

Được hình thành từ vụ Marbury kiện Madison, đặc trưng của mô hình bảo hiến kiểu Mỹ là không thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách. Thay vào đó, tòa án ở mọi cấp về nguyên tắc đều có quyền bảo hiến, cụ thể là trong quá trình xét xử có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật có liên quan và có quyền tuyên bố quy định đó là vi hiến, đồng thời từ chối không áp dụng quy định đó. Vì vậy, đây còn được gọi là mô hình bảo hiến phi tập trung (decentralized constitutional review). Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất trong vấn đề này, chỉ quyết định của tòa án tối cao mới có hiệu lực bắt buộc với mọi toà khác và mới có thể vô hiệu hóa một đạo luật.

3.3 Ở châu Âu

Mô hình này còn được gọi là mô hình Áo, bởi như đã đề cập ở trên, nó được xác lập đầu tiên trong Hiến pháp năm 1920 của Áo, dựa trên lý thuyết của Adolf Merkl và Hans Kelsen mà trong đó kết hợp giữa nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp và thẩm quyền tối cao của Nghị viện. Đặc trưng của mô hình này là không giao quyền bảo hiến cho toàn bộ hệ thống tòa án mà chỉ giao cho một cơ quan chuyên trách. Cơ quan này, nguyên thủy và thông thường được thành lập dưới hình thức một Tòa án Hiến pháp, nhưng sau đó còn được thành lập dưới một số hình thức khác như Hội đồng bảo hiến hay Viện bảo hiến...

Mặc dù có tên gọi khác nhau, các thiết chế bảo hiến theo mô hình châu Âu lục địa có những đặc điểm chung như sau: hoạt động bảo hiến được thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia; cơ quan bảo hiến thông thường không được coi là thuộc nhánh quyền lực tư pháp (kể cả khi có tên gọi là Tòa án Hiến pháp); thủ tục tố tụng khác với thủ tục tố tụng áp dụng ở hệ thống tòa án thường; các cơ quan bảo hiến có quyền tự chủ về hành chính và tài chính; vị thế, quyền hạn, việc thành lập hay bãi bỏ cơ quan bảo hiến thông thường thuộc quyền quyết định của Nghị viện; thẩm phán tòa hiến pháp được chỉ định bởi các cơ quan nắm quyền lực chính trị; thẩm quyền tài phán có tính chất đặc biệt: các phán quyết của cơ quan bảo hiến mang vừa mang tính pháp lý vừa mang tính chính trị; thông thường phán quyết của cơ quan bảo hiến có tính chất bắt buộc, cưỡng chế, nhưng có trường hợp chỉ có tính chất ngăn ngừa, tư vấn; phạm vi bảo hiến bao quát tất cả các văn bản pháp luật.

4. Liên hệ ở Việt Nam:

Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”.

Như vậy, chủ thể bảo hiến ở Việt Nam rất rộng, bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, viện kiểm sát và toàn dân. Mỗi cơ quan đều có cơ chế bảo hiến riêng được quy định ngay trong Hiến pháp năm 2013 hoặc luật. Tuy nhiên, chỉ có Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội được Hiến pháp năm 2013 trực tiếp quy định chức năng bảo hiến. Theo Điều 70 Hiến pháp năm 2013 thì Quốc hội “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”; Điều 74 Hiến pháp năm 2013 quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội “giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”.

Có thể nói, trong Hiến pháp năm 2013, Tòa án nhân dân được quy định nhiệm vụ bảo hiến thông qua việc hiến định chức năng, nhiệm vụ. Cụ thể là:

– Tòa án nhân dân là chủ thể bảo vệ Hiến pháp năm 2013 (khoản 2 Điều 119). Một điều đáng chú ý là ở đây, chủ thể bảo hiến không chỉ là Tòa án nhân dân tối cao mà tất cả các Tòa án nhân dân đều có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp;

– Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Quyền con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo đảm thực hiện trực tiếp. Các luật chỉ quy định hạn chế quyền con người trong phạm vi Hiến pháp quy định (Điều 14). Vì vậy, thông qua hoạt động xét xử của mình, các Tòa án bảo vệ quyền con người thì cũng là bảo vệ Hiến pháp;

Theo chúng tôi, bằng việc giao cho Tòa án nhân dân tối cao chức năng “bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”, Hiến pháp năm 2013 gián tiếp giao cho Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan xét xử cao nhất của nước ta chức năng giải thích luật. Bằng các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bằng các án lệ được ban hành, chính Tòa án nhân dân tối cao đã thực hiện việc giải thích Hiến pháp, các luật liên quan đến việc xét xử các các Tòa án nhân dân. Đây cũng là một chức năng bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ pháp luật quan trọng của Tòa án nhân dân.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê