Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Thuế của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật Thuế trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009

2. Nội dung phân tích:

Theo thông tin bạn cung cấp, giá ghi trên hợp đồng mua bán là 40 tỷ, nhưng khi thanh toán bên bán xuất hóa đơn 30 tỷ cho bạn và chuyển trả lại 10 tỷ. Do bạn không cung cấp đủ thông tin nên có thể chia làm 2 trường hợp như sau:

Thứ nhất, bên cung cấp hàng hóa chưa thực hiện xong hợp đồng, bên bán mới chỉ cung cấp được số lượng hàng tương đương với giá trị ghi trên hóa đơn là 30 tỷ, trong khi trên hợp thỏa thuận bên bán phải cung cấp số lượng hàng hóa với trị giá là 40 tỷ. Trường hợp này bên bạn có quyền yêu cầu bên bán thực hiện hết nghĩa vụ đã ghi trong hợp đồng.

>> Xem thêm:  Viết hóa đơn chưa có giá trị sử dụng có bị xử phạt không?

Thứ hai, số tiền 40 tỷ là do công ty B chuyển cho bên cung cấp nguyên vật liệu và việc bạn nhận lại 10 tỷ có được báo lại cho công ty B không? Khi chuyển 10 tỷ cho bạn trên danh nghĩa là 2 bên có tên trong hợp đồng và có hóa đơn, chứng từ ghi nhận việc này không? Hay bạn nhận lại 10 tỷ trên danh nghĩa cá nhân? Nếu bạn nhận lại 10 tỷ trên danh nghĩa cá nhân và không thông báo lại cho công ty B, theo quy định của BLHS 1999 sửa đổi 2009 hành vi của bạn có thể cấu thành tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

"Điều 140. BLHS 1999 sửa đổi 2009 quy định: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Thứ ba, công ty B chỉ ủy quyền cho bạn thực hiện việc giao kết hợp đồng với bên cung cấp nguyên liệu, nội dung hợp đồng, việc thanh toán là do công ty của bạn trực tiếp làm việc với bên bán hàng. Sau đó bạn báo cáo lại tình hình công việc cho công ty B và nộp lại hóa đơn để thực hiện quyết toán số tiền công ty bạn đã chi. 

Thứ tư, giá trị ghi trên hóa đơn là căn cứ tính thuế. Nếu bạn không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế bạn có thể đã phạm vào tội trốn thuế.

“Điều 161. BLHS 1999 sửa đổi 2009 quy định: Tội trốn thuế 
1. Người nào trốn thuế với số tiền từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm. 
2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ sáu trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Thay đổi phương pháp tính thuế giá trị gia tăng.