1. Vài nét về John Rogers Commons

John Rogers Commons (13 tháng 10 năm 1862 - 11 tháng 5 năm 1945) là một nhà kinh tế học thể chế người Mỹ, Georgist, nhà sử học tiến bộ và lao động tại Đại học Wisconsin-Madison.

John R. Commons sinh ra tại Hollansburg, Ohio vào ngày 13 tháng 10 năm 1862. Commons được nuôi dưỡng tôn giáo khiến ông sớm trở thành người ủng hộ công bằng xã hội. Commons được coi là một học sinh nghèo và bị bệnh tâm thần khi đang học. Anh ta được phép tốt nghiệp mà không cần kết thúc vì tiềm năng được nhìn thấy trong sự quyết tâm cao độ và sự tò mò của anh ta. Tại thời điểm này, Commons trở thành một tín đồ của Henry George 's '' thuế đơn kinh tế. Ông đã áp dụng phương pháp tiếp cận theo chủ nghĩa 'Georgist' hoặc 'Ricardian' này đối với kinh tế học, tập trung vào giá thuê đất và độc quyền, trong suốt phần đời còn lại của mình, bao gồm đề xuất đánh thuế thu nhập với tỷ lệ cao hơn trên giá thuê đất.

Sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Oberlin, Commons đã làm hai năm nghiên cứu sau đại học tại Đại học Johns Hopkins, nơi ông học dưới sự điều hành của Richard T. Ely, nhưng rời đi mà không có bằng cấp. Sau các cuộc hẹn tại Đại học Oberlin và Indiana, Commons bắt đầu giảng dạy tại Đại học Syracuse vào năm 1895.

Vào mùa xuân năm 1899, Syracuse đã cách chức ông như một người cấp tiến. Cuối cùng Commons trở lại học viện tại Đại học Wisconsin vào năm 1904.

2. Cuộc đời của Wesley Clair Mitchell

Wesley Clair Mitchell (5 tháng 8 năm 1874 - 29 tháng 10 năm 1948) là một nhà kinh tế học người Mỹ nổi tiếng với các công trình thực nghiệm về chu kỳ kinh doanh và hướng dẫn Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia trong những thập kỷ đầu tiên của nó.

Mitchell được coi là "học sinh ngôi sao" của Thorstein Veblen.

Paul Samuelson đã đặt tên Mitchell (cùng với Harry Gunnison Brown, Allyn Abbott Young, Henry Ludwell Moore, Frank Knight, Jacob Viner và Henry Schultz) là một trong một số "vị thánh kinh tế Mỹ" sinh sau năm 1860.

Mitchell sinh ra ở Rushville, Illinois, là con thứ hai và là con trai lớn của một bác sĩ quân đội thời Nội chiến chuyển sang làm nông dân. Trong một gia đình có bảy người con và một người cha tàn tật ham kinh doanh mạo hiểm "ngang tàng", rất nhiều trách nhiệm đổ lên vai người con trai lớn. Bất chấp những thách thức này, Wesley Clair đã theo học tại Đại học Chicago và được cấp bằng Tiến sĩ vào năm 1899.

>> Xem thêm:  Học thuyết pháp luật tự nhiên là gì ? Tìm hiểu học thuyết pháp luật tự nhiên

Sự nghiệp của Mitchell với tư cách là một nhà nghiên cứu và giáo viên đã tham gia khóa học sau: giảng viên kinh tế học tại Chicago (1899–1903), trợ lý giáo sư (1903–08) và giáo sư (1909–12) kinh tế học tại Đại học California, Berkeley, giảng viên thỉnh giảng tại Đại học Harvard (1908–09), giảng viên (1913) và giáo sư đầy đủ (1914–44) tại Đại học Columbia. Năm 1916, ông được bầu làm Ủy viên của Hiệp hội Thống kê Hoa Kỳ.

Ông là một trong những người sáng lập Trường Nghiên cứu Xã hội Mới, nơi ông giảng dạy trong khoảng thời gian từ năm 1919 đến năm 1922, và của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (1920), nơi ông là giám đốc nghiên cứu cho đến năm 1945.

3. Vài nét về Clarence E. Ayers

Clarence Edwin Ayres (6 tháng 5 năm 1891 - 24 tháng 7 năm 1972) là nhà tư tưởng chính của trường Kinh tế thể chế Texas , vào giữa thế kỷ 20.

Ayres sinh ra ở Lowell, Massachusetts, là con trai của một mục sư Baptist. Ông tốt nghiệp Đại học Brown năm 1912, và nhận bằng Tiến sĩ. về Triết học tại Đại học Chicago năm 1917. Ông giảng dạy tại Chicago từ năm 1917 đến năm 1920, và sau đó chuyển đến Trường Cao đẳng Amherst, ở Massachusetts, nơi ông dạy cho đến năm 1923. Sau một năm tại Cao đẳng Reed ở Portland, Oregon, Ayres trở thành cộng tác viên. biên tập viên của New Republic, nơi ông làm việc cho đến năm 1927. Trong năm đó, Ayres gia nhập khoa tại Đại học Texas ở Austin, nơi ông ở lại cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1968. Một trong những sinh viên của Ayres trong thời gian Ayres học tại Trường Cao đẳng Amherst là Talcott Parsons, người nổi tiếng nhất trong số các nhà xã hội học Mỹ, người đã viết hai bài báo học kỳ cho lớp Triết học III của Ayres. Một học sinh đáng chú ý khác của Ayres là C. Wright Mills . Ayres mất ngày 24 tháng 7 năm 1972 tại Alamogordo, New Mexico (Breit và Culbertson 1976: 3–22).

4. Commons chọn định nghĩa trường phái định chế ngoài tầm nhìn ban đầu của Veblen

Commons sinh ở Ohio, nghiên cứu sinh ở Đại học Johns Hopkins, và có lẽ là học giả hàng đầu ở Đại học Wisconsin từ 1904 đến 1932. Commons là lý thuyết gia nhưng không bằng đấu tranh cải cách kinh tế, xã hội đạt được qua việc hệ thông quá quản lý. Cùng với thống đốc theo chủ nghĩa tự đo của bang Wisconsin là Robert M. LaFollette, Commons viết và bảo trự cho các quy định về lao động, chống tổ chức độc quyền và ngành công ích cho tiểu bang. Đề nghị lập pháp của Commons và sự thực thi của bang Wisconsin trở thành mô hình phá choạ quy định của liên bang trong các hoạt động tương tự sau này. Vô số ấn phẩm của ông mang nội dung phê bình, yêu cầu cải cách xã hội, thông tin chủ nghĩa lịch sử-thực nghiệm và quan điểm cổ Điển, chủ nghĩa xã hội và biên tế. Ông là người theo phái định chế thuần túy loại Veblen, thay vì chọn tập trung vào hoạt động của các định chế nhân tạo (như các cơ quan điều tiết hay chống độc quyền) và chúng bị ảnh hưởng ra sao bởi các quyết định tài sản cá nhân, lập pháp và tòa án.

Trong Legal Foundations of Capitalism (1924), Commons nhấn mạnh luật pháp và tòa án như những yếu tố kiềm chế trong hệ thống kinh tế, một quan điểm ngày nay vẫn còn giá trị trong kinh tế điều tiết chính phủ. Nhưng trong bộ sách nhiều tập Institutional Economics (1934), Commons chọn định nghĩa trường phái định chế ngoài tầm nhìn ban đầu của Veblen. Đối với Commons, thị trường và ảnh hưởng của nó có thể đánh giá tốt hay xấu thông qua tiêu chuẩn (phải thừa nhận là quy phạm) tính hiệu quả và công bằng. Vì thế một hệ thông công bằng và hiệu quả có thể nghĩ ra và chịu ảnh hưởng thông qua quy định lập pháp và thông qua bộ máy tư pháp. Như chúng ta chứng kiến, Veblen tỏ ra hoài nghi về khả năng của chính phủ nâng cao phúc lợi chung thông qua sự thay đổi định chế. Commons không có ảnh hưởng trong sự tái định hướng kinh tế học cơ bản, nhưng ông tác động sâu sắc đến nhiều sinh viên ở Wisconsin.

5. Mitchell - khách quan hóa định chế tiền tệ và biến động kinh doanh

Thế nhưng phương hướng khác của phái định chế được học trò của Veblen tên Wesley Clair Mitchell đảm nhận, ông là giáo sư Đại học Chicago từ năm 1922 đến 1940, một trong số hai, ba nhà kinh tế học người Mỹ nổi tiếng trong thời đại. Mitchell, người mang lại cơ sở thống kê cho kinh tế học nói chung và kinh tế học định chế nói riêng, thành lập Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia năm 1920 (NBER vẫn còn hoạt động và hiện nay là viện nghiên cứu chức năng). Thật khó đánh giá quá cao ý nghĩa quan trọng trong nỗ lực tiên phong của Mitchell xác định số lượng những khái niệm kinh tế đơn giản chẳng hạn như “tiền tệ”, “giá cả” và “thu nhập”. Phân tích đột phá ban đầu của Jevons trong việc xây dựng chỉ số và nghiên cứu thống kê loạt giá ra đời trong sự giám sát có tài của Mitchell. Trong kiệt tác của ông nhan đề Business Cycles (1913), Mitchell phân tích sự cất cánh và suy thoái từ thế kỷ 19 đến cơn hoảng loạn tiền tệ năm 1907, bậc thầy trong sử dụng số liệu tái tạo về giá và lãi trái suất, tiền lương, giá hàng hóa, và cổ phiếu tài chính (biến số chính trong giải thích của Mitchell), và tốc độ lưu thông tiền tệ. Tiếp cận của ông trong phân tích kinh tế - lý thuyết tương quan với giải thích thực nghiệm, có tác động sâu sắc đến phương hướng nghiên cứu kinh tế ở Mỹ thế kỷ 20. Nghiên cứu về giải thích tổng sản phẩm quốc dân, phân tích chu kỳ kinh doanh, sự tăng trưởng, chống độc quyền và tổ chức công nghiệp từ nay về sau có thể kết hợp với những ám chỉ thực nghiệm. Vì thế, Mitchell xây dựng chương trình thu thập và sử dụng số liệu thực nghiệm, cùng với phân tích toán học và thống kê sau đó, làm cho kinh tế học hiện đại có đặc điểm của riêng nó.

>> Xem thêm:  Thị trường giao dịch tập trung là gì ? Thị trường giao dịch phi tập trung là gì?

Nhưng đóng góp quan trọng của Mitchell liên quan đến thuyết định chế của thầy mình ra sao, nhất là Veblen phản đối kịch liệt những bổ sung toán học và thống kê trong lý thuyết kinh tế xem như không hữu ích? Veblen tìm cách xây dựng nền tảng văn hóa và tâm lý cho một số loại định chế trong khi mục đích của Mitchell là phải khách quan hóa định chế tiền tệ và biến động kinh doanh. Công trình của Mitchell là sự triển khai công trình của Veblen, nhưng là một công trình mà chính Veblen không theo đuổi hay nhận thấy vô cùng hữu dụng. Trở lại trường hợp của Com­mons, “kinh tế học định chế” chọn phương hướng đặc biệt không giống như nhận thức của riêng Veblen.

6. Ayres - giá và thị trường kém quan trọng hơn công nghệ và định chế

Trong số những người theo phái định chế gắn bó nhất với khái niệm lý thuyết ban đầu của Veblen là Clarence Edwin Ayres. Ông học ở Đại học Brown và Chicago, Ayres phần lớn hoạt động ở Đại học Texas (1930 cho đến khi ông nghỉ hưu năm 1968). Thật ra, do ảnh hưởng của Ayres, Đại học Texas trở thành tâm điểm của trường phái định chế ở Mỹ.

Trong nhiều ấn phẩm quan trọng, trong đó có The Theory of Economic Progress (1944) và Toward a Reasonable Society: The Value of Industrial Civilization (1961), Ayres trở lại quan tâm lý thuyết của Thorstein Veblen, nhưng với một khác biệt quan trọng khác. Như Veblen, Ayres miệt mài trong triết học, nhưng định hướng cụ thể của ông là tiếp cận phái định chế-thực dụng của John Dewey. Dưới dạng chính sách kinh tế, Ayres tán thành cải biên thực dụng, tự do của chủ nghĩa Tư bản, giống như cải biên của Commons. Nhưng ông phủ nhận chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Phát xít. Như Veblen và J. M. Keynes, Ayres là người tiêu dùng ít ủng hộ kế hoạch hóa và quản lý kinh tế có sửa đổi như một biện pháp chữa cháy cho những gì mà ông đánh giá là sự quá độ của chủ nghĩa tư bản.

Thế nhưng, dưới dạng học thuyết, Ayres theo thuyết quyết định công nghệ. Ayres xem công nghệ như giá trị tuyệt đối mà xã hội phải chú ý đến. Ông nói về tiến trình đời sống mà các định chế góp phần hay không góp phần. “Sản xuất đầy đủ” bao gồm tối đa hóa khả năng sáng tạo của con người, theo đuổi nghệ thuật, v.v... ngoài hạnh phúc vật chất, là đều là yếu tố tối đa trong hệ thông Ayres.

Ayres làm nổi bật giá trị định chế với giá trị công nghệ, ngụ ý “sự đóng góp cho tiến trình đời sống” dùng như một tiêu chuẩn đánh giá giá trị “đúng” và “sai”. Theo quan điểm của ông, công nghệ là giá trị sau cùng vì chỉ riêng nó mang tính độc lập trong nghiên cứu văn hóa. Thực ra, Ayres xem kinh tế học định chế như một nghiên cứu công nghệ và thay đổi công nghệ. Không như Veblen, hoàn toàn ông không từ bỏ giá trị thị trường và hệ thông giá, nhưng ông cho rằng giá và thị trường kém quan trọng hơn công nghệ và định chế trong việc xác định phương hướng “sản xuất đầy đủ”. Thế nhưng, như Veblen, Ayres không thể cung cấp một khuôn khổ nhất quán, cố kết trong đó dùng để phân tích động lực và đời sống lịch sử- của các xã hội kinh tế. Mặc dù công trình rất sáng tạo của Ayres có vô số kẽ hở trong mô hình lý thuyết của phái định chế, khiếm khuyết và mâu thuẫn được người khác bù đắp và giải quyết.

Vì thế, kinh tế học định chế bị phân nhánh sau thời Veblen. Yếu tố thống kê-quy nạp được Mitchell bổ sung, Commons chuyển kinh tế học định chế thành chương trình dành cho cải cách xã hội (chủ yếu là cải cách lập pháp), còn Ayres mở rộng nhận thức của Veblen thành lý thuyết giá trị công nghệ.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về Triết học pháp quyền của Hegen

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thế nào là Kinh tế học thể chế (Institutional economics) ?

Trả lời:

Kinh tế học thể chế tập trung vào việc tìm hiểu vai trò của quá trình tiến hóa và vai trò của các thể chế trong việc định hình hành vi kinh tế. Trọng tâm ban đầu của nó nằm ở sự phân đôi theo định hướng bản năng của Thorstein Veblen giữa một bên là công nghệ và một bên là lĩnh vực "nghi lễ" của xã hội. Tên và các yếu tố cốt lõi của nó bắt nguồn từ một bài báo trên Tạp chí Kinh tế Mỹ năm 1919 của Walton H. Hamilton.

 

 

Câu hỏi: Theo Kinh tế học thể chế, thị trường được hình thành từ đâu?

Trả lời:

Kinh tế học thể chế nhấn mạnh việc nghiên cứu rộng hơn các thể chế và xem thị trường là kết quả của sự tương tác phức tạp của các thể chế khác nhau này (ví dụ: cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước, chuẩn mực xã hội). Truyền thống trước đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay như một cách tiếp cận không chính thống hàng đầu đối với kinh tế học. 

 

 

Câu hỏi: Nền kinh tế chính trị thể chế là gì?

Trả lời:

Kinh tế chính trị thể chế, còn được gọi IPE , đề cập đến một cơ quan kinh tế chính trị, được cho là xuất phát từ các công trình của các nhà thể chế như Thorstein Veblen, John Commons, Wesley Mitchell và John Dewey. Nó nhấn mạnh tác động của các yếu tố lịch sử và chính trị xã hội đối với sự phát triển của thực tiễn kinh tế, thường phản đối các cách tiếp cận hợp lý hơn. Theo nghĩa chính trị, điều này ngụ ý các tác nhân ảnh hưởng như nhà nước đối với thực tiễn kinh tế xã hội và việc hình thành các thể chế thông qua việc ra quyết định chính trị.