1. Khái niệm văn bản công chứng
“Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định” (khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 – sau đây gọi là Luật Công chứng).
Trong thực tế, có ý kiến cho rằng “Văn bản công chứng” chỉ là phần “Lời chứng của công chứng viên” vì tranh chấp về hợp đồng dân sự, giao dịch dân sự đã được quy định là một loại tranh chấp tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Quan điểm này cho rằng đó là hai phần riêng biệt nên có thể khởi kiện về hợp đồng mà không khởi kiện về lời chứng, và ngược lại.
Trong đề tài này, tác giả nhận thấy rằng để hiểu rõ hơn những quy định hiện hành, có một số vấn đề phải tham khảo những quy định cũ. Vì vậy, ngoài pháp luật hiện hành là Luật công chứng, Nghị định 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, cần tham khảo một số văn bản pháp quy như:
- Luật Công chứng năm 2006, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2007;
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ Về Công chứng, chứng thực, có hiệu lực từ 01/4/2001;
- Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ Về Tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước;
- Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Về Tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước.
Trong quy định về Văn bản công chứng của Luật Công chứng năm 2006 có quy định rõ tại Điều 4 là:
“1. Hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của Luật này gọi là văn bản công chứng.
Văn bản công chứng bao gồm các nội dung sau đây: a) Hợp đồng, giao dịch; b) Lời chứng của công chứng viên”.
Trong quy định về Lời chứng của công chứng viên tại khoản 1 Điều 46 Luật Công chứng cũng bao gồm “chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyên, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội…”.
Từ quy định của Luật Công chứng và tham khảo quy định của Luật Công chứng năm 2006 như nêu ở trên cho thấy Văn bản công chứng không phải chỉ là Lời chứng mà bao gồm cả hợp đồng, giao dịch và lời chứng về hợp đồng, giao dịch ấy.
2. Công chứng và giá trị văn bản công chứng
Trước hết, cần hiểu rõ công chứng và sự khẳng định về giá trị của văn bản công chứng được quy định tại Luật Công chứng.
- Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 nêu rõ: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
- Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 khẳng định giá trị pháp lý của văn bản công chứng:
“1. Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.
2. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
3. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
4. Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch”.
3. Công chứng trong quan hệ pháp luật hành chính
Đề điều chỉnh lĩnh vực công chứng, Nhà nước ban hành Luật Công chứng đề ra các quy định tạo hành lang pháp lý cho hoạt động công chứng. Luật Công chứng cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Trong đó, Luật Công chứng năm 2014 nêu rõ các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng và cá nhân, tổ chức (Điều 7). Trường hợp vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật, cụ thể tại các Điều 71, 72, 73, 74, 75 Luật Công chứng năm 2014:
- Xử lý vi phạm đối với công chứng viên: Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vi phạm đối với tổ chức hành nghề công chứng: Tổ chức hành nghề công chứng vi phạm quy định của Luật này thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vi phạm đối với người có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng: Người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng hoặc cản trở công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vi phạm đối với cá nhân, tổ chức hành nghề công chứng bất hợp pháp: Cá nhân không đủ điều kiện hành nghề công chứng mà hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào thì phải chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tổ chức không đủ điều kiện hành nghề công chứng mà hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào thì phải chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vi phạm đối với người yêu cầu công chứng: Người yêu cầu công chứng có hành vi cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo, sửa chữa, tẩy xóa giấy tờ, văn bản trái pháp luật hoặc có hành vi gian dối khác khi yêu cầu công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trong mối quan hệ hành chính, trường hợp có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trong đó, hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
Hình thức xử phạt chính:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn.
Hình thức xử phạt bổ sung:
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn;
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm trong hoạt động công chứng
- Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung;
- Buộc tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thực hiện chứng thực thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng, chứng thực;
- Buộc thu hồi và huỷ bỏ giấy tờ, văn bản, tài liệu, chứng cứ giả;
- Buộc tổ chức hành nghề công chứng thông báo trên cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở về bản dịch đã được công chứng, văn bản đã được chứng thực;
- Buộc cơ quan thực hiện chứng thực đang lưu trữ hồ sơ chứng thực thông báo trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về bản dịch đã được chứng thực;
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm
Các nhóm hành vi bị xử phạt trong lĩnh vực công chứng bao gồm:
- Hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên; đề nghị thành lập, đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, đăng ký hành nghề và cấp thẻ công chứng viên.
- Hành vi vi phạm quy định liên quan đến công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch.
- Hành vi vi phạm quy định của công chứng viên khi nhận lưu giữ di chúc; công chứng di chúc, văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, văn bản từ chối nhận di sản.
- Hành vi vi phạm quy định của công chứng viên về công chứng bản dịch.
- Hành vi vi phạm quy định hoạt động hành nghề công chứng.
- Hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.
- Hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.
Đối với các hành vi bị xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả liên quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng là “Buộc tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thực hiện chứng thực thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng, chứng thực”, chứ không phải là thu hồi hay hủy bỏ các văn bản này. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định về giá trị của văn bản công chứng và bản chất của hợp đồng, giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật dân sự.
5. Hậu quả tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Khi chấp nhận yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì toàn bộ văn bản đó vô hiệu. Tuy nhiên, văn bản đó vô hiệu có thể do vi phạm về thủ tục công chứng, có thể do vi phạm về nội dung, có thể do vi phạm cả về thủ tục và nội dung. Do văn bản công chứng không đồng nhất với đối tượng được công chứng nên đồng thời với việc chấp nhận yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, Tòa án phải phán quyết rõ đã có vi phạm về thủ tục hay về nội dung, bao gồm cả việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Nếu chỉ xác định Văn bản công chứng vô hiệu do vi phạm về thủ tục công chứng thì phải xác định giao dịch có hiệu lực (nếu đủ điều kiện có hiệu lực). Tòa án đã giải quyết về yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là đã xem xét cả về thủ tục và nội dung của văn bản nên nếu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà không tuyên giao dịch vô hiệu thì cũng là đã giải quyết tranh chấp về giao dịch, các chủ thể có liên quan không được khởi kiện lại về giao dịch này. Tất nhiên, nếu không có yêu cầu giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu thì Tòa án không giải quyết về hậu quả giao dịch vô hiệu; các chủ thể liên quan có quyền khởi kiện về hậu quả giao dịch vô hiệu bằng vụ án khác.