Cung tiền (MONEY SUPPLY) là tổng lượng tiền dành cho các giao dịch và đầu tư trong nền kinh tế. ủy ban Dự trữ Liên bang sử dụng nhiều số đo thống kê khốc nhau, để đo lường nhiều hình thức khác nhau của tiền tệ hình thành nguồn cung tiền. Tổng lượng tiền trong nguồn cung tiền được cập nhật hàng tuần bởi ủy ban Dự trữ Liên bang.
Khi Fed theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng, thì ngân hàng trung ương bổ sung các khoản dự trữ vào hệ thống ngân hàng, và các ngân hàng có thể cho vay nhiều hơn. Điều này kích thích tăng trưởng nguồn cung tiển, bởi vì những người vay kinh doanh giữ một phần các khoản vay dưới hình thức ký gửi tại ngân hàng.
Kể từ năm 1983, khi tổng lượng tiền được điều chỉnh lần cuối cùng thì các thành phần của cung tiễn như sau:
M1: Tiền do cóng chúng giữ, cộng với chi phiếu của khách vãng lai, tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản Lệnh Rút tiền khả 'nhượng (NOW), tài khoản Super NOW, tài khoản Dịch vụ Chuyển tiền Tự động (ATS), và hối phiếu cổ phần của hiệp hội tín dụng.
M2: M1 cộng với các khoản tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn có mệnh giá nhỏ, Tài khoản tiền gửi Thị trường Tiền tệ, cổ phần trong các Quỹ tương hỗ của Thị trường tiền tệ được sở hữu các bởi nhà đầu tư cá nhân.
M3: M2 cộng với tiền gửi kỳ hạn dài, thỏa thuận mua lại kỳ hạn mệnh giá lớn, cổ phần trong các quỹ hỗ tương của thị trường tiền tệ sở hữu bởi các nhà đầu tư định chế, và một số tiền gửi đôla Châu Âu.
L: Tài sản thanh khoản dài hạn bao gồm M3 cộng với những khoản đầu tư phi ngân hàng vào các trái phiếu tiết kiệm Hoa Kỳ, chứng khoán Kho bạc ngắn hạn, thương phiếu và phiếu chấp nhận của các ngân hảng.