1. Thời thơ ấu gian nan

Alfred Marshall là con trai của một viên thủ quỹ ngân hàng, sinh ra ở Clapham, Anh vào năm 1842. Tổ tiên của ông phần lớn đều là mục sư, bố của Alfred, William, ít theo phái Phúc âm hơn và làm nghề thế tục ở Ngân hàng Anh quốc. William Marshall thực ra là người chấp hành kỷ luật nghiêm khắc, thường xuyên ép buộc con trai thông minh của mình phải dồn hết sức để học. Lúc nào ông cũng bắt con mình phải làm bài tập ở nhà đến nửa đêm. Do đó, chỉ trong những lần viếng thăm bà cô ở xa vào dịp nghỉ hè hàng năm mới giúp Alfred Marshall thoát khỏi cảnh kiệt sức về thể chất lẫn tinh thần trong thời thanh niên.

Ở trường trung học cơ sở, Marshall có biệt danh là “Tallow Candles” vì dáng vẻ bơ phờ, quần áo lếch thếch. Ông không dễ kết bạn, việc theo buổi hai môn ông thích nhất là toán học và cờ cũng bị người bố độc đoán ngăn cấm. Năm 1861, một Marshall nổi loạn từ chối không nhận học bổng ở trường Oxford (mà lẽ ra giúp ông làm mục sư) vì như ông phát biểu, ông không muốn kéo dài việc nghiên cứu các từ ngữ. Bố ông, một mặt không đủ khả năng để cho con học Đại học bằng tiền của chính mình. Vì thế, với sự trợ giúp tài chính của một ông chú giàu có, Marshall được vào học ở Cambridge, nơi đây không chỉ ông say mê môn toán vốn là sở thích mà còn nổi bật như một sinh viên ưu tú.

2. Niềm đam mê toán học

Niềm đam mê toán học của Marshall giúp ông trong hai khía cạnh. Ban đầu ông xem việc nghiên cứu toán học của mình như cách thể hiện sự độc lập với ông bố độc đoán. Cũng vì ông nhận thu nhập khiêm tốn nhất từ việc dạy kèm môn toán, Marshall có đủ khả năng hoàn trả lại ông chú và tự mình xoay xở ở Cambridge. Sau này ông viết:

“Toán học đã giúp tôi trả nợ. Tôi hoàn toàn tự do theo đuổi chí hướng của mình” (Pigou, Memorials of Alfred Marshall, trang 5).

Những sở thích này sau cùng đưa đẩy ông đến kinh tế chính trị học năm 1867 nhưng chỉ sau một vài lần quanh co. Marshall mô tả con đường quanh co của mình dẫn đến kinh tế học:

“Từ Vật lý siêu hình tôi chuyển sang Luân lý, và mặc dù sự biện minh cho điều kiện hiện tại của xã hội không dễ dàng. Một người bạn, người đọc nhiều tác phẩm mà hiện nay gọi là Khoa học luân lý, thường bảo, “Này bạn! Nếu bạn hiểu Kinh tế chính trị học bạn sẽ không phát biểu như thế”. Vì thế tôi đọc Political Economy của Mill và rất thích thú môn học này. Tôi cũng hoài nghi đối với sự thích đáng của sự bất bình đẳng của cơ hội, hơn là sự thích đáng của tiện nghi vật chất. Lúc ấy, trong kỳ nghỉ hè tôi đến thăm những khu nghèo nhất trong một vài thành phố và đi bộ hết con phố này đến phố khác, quan sát gương mặt của người nghèo nhất. Kế đến, tôi giải quyết bằng cách tiến hành một nghiên cứu toàn diện như có thể về môn Kinh tế chính trị học”. (Pigou, Memorials, trang 10).

3. Chọn kinh tế học làm lĩnh vực nghiên cứu

Sau khi đã chọn kinh tế học làm lĩnh vực nghiên cứu, Marshall tiếp cận nghiên cứu về chủ đề này với sự chuyên cần cá nhân mà ông duy trì cho đến khi đạt mục đích - sự cống hiến không phải là không đáng kể đối với đóng góp tầm cỡ của ông trong phân tích kinh tế.

>> Xem thêm:  Đức trị là gì ? Khái niệm đức trị được hiểu như thế nào ?

Trong khi bố ông vẫn còn hy vọng con trai của mình sẽ đứng trong hàng ngũ mộ đạo thì Marshall lại lập gia đình năm 1877 với cô Mary Paley, học trò trước đây của ông và đang giảng dạy ở Cao đẳng Newham, buộc ông - như trường hợp xảy ra cho Malthus trước đây - phải từ bỏ học bổng ở Cambridge. Vợ chồng Marshall rời trường Cambridge để đến Bristol, nơi đây cả hai đều giảng dạy kinh tế chính trị học ở trường Cao đẳng University mới thành lập. Cũng tại đây, cả hai đều viết chung quyển Economics of Industry xuất bản lần đầu tiên năm 1879.

Thời gian ở Bristol là những ngày tháng hạnh phúc, ngoại trừ một khoảng thời gian Marshall bị bệnh kéo dài. Thế nhưng, năm 1884, trường cũ mời ông về nhận chức trưởng khoa và ông trở về Cambridge. Ở đây ông sống cho đến cuối đời với điều mà ông gọi là “một xã hội có học thức nho nhỏ rất giản dị nhưng cũng nhiều phân biệt. 50 năm sáng tác của Alfred Marshall đã cho ra đời 82 ấn phẩm, gồm sách, bài báo, luận văn, hội nghị và chứng nhận (trước ba Hội đồng hoàng gia). Quyển Principles of Economics (1890) rất nổi tiếng và thuyết phục đã tái bản đến lần thứ 9, Industry and Trade (1919), tái bản lần thứ 5 và The Economics of Industry (1879), tái bản hai lần và mười lần in lại. Chỉ riêng quyển Money, Credit and Commerce (1923) là không in nhiều lần chỉ vì quyển sách này xuất bản một năm trước khi Marshall mất.

Thế nhưng, tất cả những người viết tiểu sử của ông đều đồng ý ảnh hưởng của ông trong kinh tế học không thể đánh giá bằng những tác phẩm ấn hành. Điều quan trọng hơn đối với sự phát triển lý thuyết kinh tế chính là việc ông truyền quan điểm độc đáo cho một thế hệ sinh viên có năng lực nhất trước khi in những quan điểm này ra thành sách. Truyền thông khẩu truyền mà Marshall bắt đầu ở Cambridge hình thành một chương đặc biệt quan trọng trong lịch sử phân tích kinh tế, nhất là lý thuyết Tiền tệ”.

4. Một nửa giáo sư kinh tế học ở Vương quốc Anh đều là học trò Marshall

Đầu năm 1888, Herbert Foxwell nhận xét về Marshall: “Một nửa vị trí giáo sư kinh tế học ở Vương quốc Anh đều do học trò ông chiếm giữ, phần họ cùng nhau đóng góp trong việc giảng dạy kinh tế đại cương thậm chí còn nhiều hơn cả số này” (Quarterly Journal of Economics, tập 2, trang 92).

Quả thật, danh sách dài gồm nhiều sinh viên của Marshall được liệt vào hạng Danh nhân kinh tế học của Anh vào đầu thế kỷ 19. Ngoài J. M. Keynes nổi tiếng ra, còn có A. c. Pigou, Joan Robinson và D. H. Robertson,.... Những sinh viên này nuôi dưỡng “truyền thống Cambridge” do Cambridge khởi đầu và họ phát triển theo nhiều hướng khác nhau.

5. Quá trình sáng tác của Marshall

Marshall luôn gặp trở ngại không ngừng trong việc xuất bản tác phẩm của mình cũng là nguyên nhân khiến cho sinh viên và bạn bè ông thất vọng. Marshall là một tác giả cực kỳ nghiêm túc và tỉ mỉ, ông cứ luôn do dự xuất bản cho đến khi ông nghĩ rằng ẩn ý trong nội dung và hoàn thiện việc trình bày quan điểm. Kết quả là những đóng góp có giá trị lâu bền trong phân tích kinh tế, nhưng đóng góp còn nhiều hơn những gì chưa xuất bản sau khi thời kỳ cực thịnh của ý tưởng mới lụi tàn. Keynes viện dẫn minh họa cực đoan trong lý thuyết Tiền tệ của ông — vốn là một phần trong truyền thống Cambridge trong vài thập niên trước khi được in năm 1923. (trong Money, Credit and Commerce).

Cũng thái độ thận trọng tương tự khiến cho Marshall trở thành một người giải thích muộn màng các chứng cứ lịch sử rút ra nguyên tắc hiệu dụng biên tế độc lập với lịch sử và cùng khoảng thời gian của Jevons, Menger, và Walras. Thế nhưng, trong một chừng mực nhất định, Marshall vượt trội hơn Jevons và Walras. Môn toán giúp ông trở thành một nhà toán học tài năng hơn. Tuy nhiên tiếp cận của ông trong sử dụng toán học trong kinh tế vẫn còn thận trọng. Thời thanh niên ông chuyển công trình của Ricardo và Mill thành ký hiệu toán học, nhưng rõ ràng ông làm như thế đơn thuần để cá nhân ông được thuận tiện. Sau này, trong lời tựa quyển Principles nổi tiếng, Marshall biện minh cho tiếp cận dùng toán học cho tiện của mình:

“Việc sử dụng chính toán học thuần túy trong các vấn đề kinh tế có vẻ nằm trong sự giúp đỡ một người viết cho nhanh, ngắn gọn, chính xác, một số tư tưởng của riêng mình để sử dụng cho bản thân... Có vẻ đáng ngờ khi có một ai đó dùng thời gian của mình để đọc các bản dịch dài lê thê học thuyết kinh tế thành toán học mà không do chính mình chuyển sang hay không”. (Prin­ciples. trang 20-21).

>> Xem thêm:  Thuyết khế ước xã hội là gì ? Tìm hiểu về thuyết khế ước xã hội

Trong Principles, Marshall giới hạn việc sử dụng đồ thị và các ký hiệu toán học khác như các chú thích cuối trang và phụ lục như thể không thừa nhận toán học làm giảm giá trị lý thuyết của mình. Ông quan tâm đến việc truyền đạt đơn giản với thương gia cũng như sinh viên. Ngoài ra, ông nhận thức chính xác rằng sự quá ỷ lại vào toán học:

“Sẽ đưa chúng ta lạc đường trong việc theo đuổi trò chơi tri thức, các vấn đề trừu tượng không phù hợp với điều kiện của đời sống thực, và hơn nữa, sẽ làm nhận thức về tỉ lệ của chúng ta bị méo mó khiến chúng ta xem nhẹ yếu tố vốn không dễ gì tiến triển trong guồng máy toán học”. (Pigou, Memorials, trang 84).

Thực ra, nếu Marshall nhìn thấy sự phát triển sau này của kinh toán học với tất cả cường độ thì ông lẽ ra đã muốn ấn bản các quy tắc của riêng mình về vấn đề ở một nơi dễ thấy hơn là trong lá thư ông gửi cho bạn bè và đồng nghiệp, Arthur Bowley. Ngày 27/02/1906, Marshall viết có vẻ như hồi tưởng:

“Những năm sau này càng ngày tôi có cảm giác rằng tác phẩm của tôi về chủ đề diễn đạt bằng định lý toán học để giải quyết giả thuyết kinh tế đều không chắc trở thành kinh tế học thích hợp, và càng ngày tôi áp dụng quy tắc càng nhiều (1) Sử dụng toán học như một ngôn ngữ tốc ký chứ không phải là một cỗ máy điều tra, (2) cứ duy trì cho đến khi nào bạn thực hiện xong, (3) dịch sang tiếng Anh, (4) sau đó minh họa bằng ví dụ quan trọng trong đời sống thực, (5) không dùng toán học, (6) nếu không thể thành công trong bước (4) hãy bỏ bước (3). Điều sau cùng này tôi thường quên”. (Pigou, Memorials, trang 427).

Keynes nêu bật tài năng của Marshall như sau: “Ông được đào tạo phối hợp và tính tình mâu thuẫn đã trang bị cho ông tài năng cần thiết nhất và cơ bản nhất của nhà kinh tế học - dễ nhận ra ông là một sử gia và cũng là nhà toán học, một người xử lý nói riêng và nói chung ông cũng là một người trần tục nhưng đời đời sống mãi”. (Pigou, Memorials, trang 12).

Tóm lại, Marshall là nhà kinh tế đầu tàu được thừa nhận, không thể nghi ngờ đối với đồng nghiệp và sinh viên. Quan điểm của ông cho rằng kinh tế học “là lĩnh vực cần sự làm việc cộng tác của nhiều người với nhiều quan điểm khác nhau”. Như Walras, người bạn cùng thời Marshall giúp đẩy mạnh quá trình chuyên môn hóa trong kinh tế học. Sự khác biệt mà Marshall có khả năng sử dụng ảnh hưởng của mình từ cơ sở vững chắc trong truyền thông lâu đời của Đại học Cambridge, trong khi Walras buộc phải hoạt động từ tiền đồn đơn độc ở Thụy Sĩ.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Quyền lực chính trị là gì ? Quy định về quyền lực chính trị

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thỏa dụng biên là gì?

Trả lời:

Thỏa dụng biên cũng còn gọi là lợi ích biên tế là mức thỏa dụng mà người tiêu dùng có thêm khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa. Đây là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học vi mô. Về mặt toán học, thỏa dụng biên có thể tính ra được bằng cách lấy vi phân hàm thỏa dụng theo lượng hàng hóa được tiêu dùng thêm.

 

Câu hỏi: Quy luật thỏa dụng biên giảm dần như thế nào?

Trả lời:

Các nhà kinh tế cho rằng thỏa dụng biên tuân theo quy luật giảm dần, nghĩa là người ta càng tiêu dùng thêm nhiều hàng hóa nào, thì mức thỏa dụng có thêm được từ việc tiêu dùng đó ngày càng nhỏ đi. Trong thực tiễn, người ta thấy ăn ngon miệng hơn khi đói, ăn cây kem đầu tiên sẽ ngon hơn các cây kem tiếp theo.

Câu hỏi: Chi phí trong kinh tế học là gì?

Trả lời:

Chi phí là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học, là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể. Nói một cách khác, hay theo phân loại của kế toán tài chính thì đó là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch, v.v... nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh.