Khái niệm pháp nhân

Theo Giáo trình của trường Đại học luật Hà Nội, pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ xã hội một cách độc lập

Các điều kiện của pháp nhân

Khoản 1 Điều 74 BLDS 2015 quy định: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của bộ luật này; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”.

Các điều kiện của pháp nhân là các dấu hiệu để công nhận một tổ chức có tư cách là chủ thể của quan hệ dân sự. Theo quy định tại Điều luật trên, gồm có 4 điều kiện. Thứ nhất, được thành lập một cách hợp pháp tức là pháp nhân có thể được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có mục đích, nhiệm vụ hợp pháp. Thứ hai, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ tức là pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ để biến một tập thể người thành một thể thống nhất (một chủ thể) có khả năng thực hiện có hiệu quả nhất nhiệm vụ của tổ chức đó đặt ra khi thành lập.

Thứ ba, phải có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó, tức là “sự độc lập về tài sản của pháp nhân thể hiện như sau: tài sản pháp nhân độc lập với tài sản cá nhân – thành viên của pháp nhân, độc lập với cơ quan cấp trên của pháp nhân và các tổ chức khác; tài sản độc lập của pháp nhân là tài sản thuộc quyền của pháp nhân đó, do pháp nhân chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong phạm vi nhiệm vụ và phù hợp với mục đích của pháp nhân”. Thứ tư, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập tức là pháp nhân là một chủ thể độc lập của quan hệ pháp luật dân sự, do đó, khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân suwh hay các quan hệ khác thì pháp nhân phải nhân danh chính mình chứ không phải nhân danh của một cá nhân hay tổ chức nào khác. Ngoài ra, pháp nhân tham gia các quan hệ dân sự với tư cách riêng, có quyền và nghĩa vụ dân sự do pháp luật quy định và đồng thời pháp nhân có thê trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trước tòa trong quan hệ tố tụng dân sự. Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh sau khi gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng tại vùng biển miền Trung thì khi bị khởi kiện, chính công ty là bị đơn của vụ việc chứ không phải một cá nhân hay tổ chức nào khác của công ty này.

Cần lưu ý rằng trường hợp doanh nghiệp tư nhân không được coi là pháp nhân bởi vì: mặc dù doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo quy định của pháp luật, có cơ quan điều hành và nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật dân sự một cách độc lập; tuy nhiên tài sản của doanh nghiệp tư nhân lại gắn liền với cá nhân (tức ông chủ của doanh nghiệp) chứ không phải là tài sản độc lập với pháp nhân.

Phân loại pháp nhân

Căn cứ vào mục đích thành lập và hoạt đông, pháp nhân được chia làm hai loại là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại.

Tại Điều 75 BLDS 2015 quy định: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. 3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Nếu dựa vào chủ sở hữu vốn trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp không phải Nhà nước. Nếu dựa vào quốc tịch thì gồm doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Dựa vào loại hình doanh nghiệp thì bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Các tổ chức kinh tế khác được hiểu là các tổ chức không phải doanh nghiệp nhưng hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Ví dụ về pháp nhân thương mại như: Công ty trách nhiệm hữu hạn gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh.

Tại Điều 76 BLDS 2015 quy định: “1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận, nếu không có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác. 3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Cơ quan nhà nước là bộ phân cấu thành bộ máy nhà nước, nhân danh nhà nước thực thi quyền lực nhà nước. Đơn vị vũ trang nhân dân gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. tổ chức chính trị là tổ chức mà thành viên hoạt động với nhau vì một khuynh hướng chính trị nhất định. Tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức mang màu sắc chính trị với vai trò là đại diện các tầng lớp trong xã hội đối với hoạt động của nhà nước cũng như đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, chính quyền nhân dân (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn Thanh niên công sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp có thể kể đến như Hội Luật gia Việt Nam. Tổ chức xã hội ví dụ như Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Tổ chức xã hội nghề nghiệp ví dụ như Đoàn Luật sư, Trọng tài kinh tế,…

Ưu điểm của BLDS 2015 về pháp nhân

BLDS 2015 thể hiện: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ thể đặc biệt trong pháp luật dân sự, Nhà nước thay mặt nhân dân thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng như các tư liệu sản xuất đặc thù khác của đất nước như hầm mỏ, rừng, biển đảo,… Quyền sở hữu đối với tài sản toàn dân dựa trên cơ sở Nhà nước giao tài sản cho các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Các cơ quan này là một pháp nhân độc lập trong các quan hệ pháp luật dân sự nên Nhà nước không chịu trách nhiệm về hoạt động của nó. Các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương có quyền thành lập các cơ quan trực thuộc hoặc doanh nghiệp và phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về pháp nhân.

Về những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005, việc phân chia pháp nhân thành hai loại là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại (thay cho Điều 100 BLDS 2005) cho thấy BLDS 2015 đã tiếp cận trên một phương diện mới về vấn đề pháp nhân dựa trên kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới. Pháp nhân không còn chia thành nhiều loại và rườm già như quy định của BLDS 2005 mà tóm lại thành hai loại chính và lớn để người đọc dễ hình dung và áp dụng. Xét trên một phương diện nào đó thì đây vẫn được coi là thành công của BLDS 2015.

Thực tế pháp luật nước ta hiện nay vẫn thừa nhận hai con đường hình thành pháp nhân là thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trình tự đăng ký thành lập. Do đó, việc quy định rõ năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc thời điểm pháp nhân được ghi vào sổ đăng ký là phù hợp với thực tế xã hội. Trên cơ sở hiện nay có nhiều loại hình pháp nhân vốn hết sức phức tạp và đa dạng. Việc thêm các điều khoản về thành lập, sát nhập, hợp nhất pháp nhân; phân chia, tách pháp nhân tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc.

Với Điều 82 BLDS 2015 xác định đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai nhằm minh bạch hóa tư cách chủ thể của pháp nhân, ngăn ngừa trường hợp các nhân giả danh pháp nhân nhằm thực hiện những hành vi lừa đảo, bù đắp lỗ hổng của BLDS 2005.

Bổ sung quy định về quốc tịch của pháp nhân đã khắc phục ba điểm còn thiếu sót của BLDS 2005. Một là, quốc tịch pháp nhân là một yếu tố quan trọng tuy nhiên trước đó chưa có văn bản pháp luật nào quy định. Hai là, tại BLDS 2005 và BLDS 2015 đều có nhắc đến “pháp nhân nước ngoài”, do đó cần thiết phải có một điều luật quy định rõ ràng pháp nhân Việt Nam là như thế nào. Ba là, đối với pháp nhân là doanh nghiệp, khoản 9 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 có đề cập đến khái niệm doanh nghiệp Việt Nam, vì vậy việc bổ sung thêm điều luật về quốc tịch pháp nhân tại BLDS 2015 tạo sự tương đồng giữa các luật.

BLDS 2015 đã bổ sung thêm một quy định về vấn đề mới là chuyển đổi hình thức pháp nhân. Hiện nay, Nhà nước ta đang định hướng thực hiện “chính phủ kiến tạo” biểu hiện ở chỗ Nhà nước đang dần thay thế, chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước trở thành các công ty cổ phần. Để các doanh nghiệp Nhà nước đạt được những thành tựu to lớn như Vinamilk – doanh nghiệp cổ phần hóa thành công doanh nghiệp Nhà nước, các nhà làm luật đã đưa thêm điều khoản về chuyển đổi hình thức pháp nhân nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước phát triển, đảm bảo kinh tế Việt Nam phát triển tốt theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi đó, Nhà nước góp vốn đầu tư, tuy nhiên không can thiệp sâu vào hoạt động của các pháp nhân, và quan trọng hơn là khi pháp nhân phá sản thì việc thanh toán các khoản nợ là trách nhiệm của pháp nhân mà không còn là trách nhiệm của Nhà nước.

Đối với quy định tại Điều 94 BLDS 2015 về thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể, sau khi thực hiện chi phí giải thể pháp nhân, tài sản còn lại ưu tiên thanh toán cho người lao động, sau đó mới đến các khoản nợ khác của pháp nhân. Điều này giúp thể hiện ý chí Nhà nước trong việc ưu tiên quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động hơn là lợi ích của Nhà nước hay các đoàn thể khác. Từ đó càng thể hiện rõ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước phục vụ nhân dân.

Tóm lại, BLDS 2015 đã trình bày chi tiết, cụ thể và dễ hiểu hơn so với BLDS 2005; đồng thời bổ sung thêm những Điều khoản mới nhằm tạo sự tương đồng giữa BLDS với các bộ luật khác có liên quan; hệ thống pháp luật Việt Nam thêm hoàn thiện.

Nhược điểm của BLDS 2015 về pháp nhân

Ngay tại điều đầu tiên của Chương IV về pháp nhân (Điều 74), BLDS 2015 chỉ nêu những điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân, trong đó, các điều khác thuộc Chương IV cũng không hề đề cập đến một khái niệm rõ ràng rằng Pháp nhân là gì? So với BLDS 2005 đã hết hiệu lực thì BLDS 2015 vẫn chưa có đột phá mới về khái niệm pháp nhân. Ngoài ra quy định về điều kiện của pháp nhân chưa một lần được áp dụng vì tổ chức nào là pháp nhân thì đã được luật chuyên ngành quy định trực tiếp. Dẫn đến việc các quy định về điều kiện công nhận pháp nhân chỉ mang tính hiệu lực trên giấy.

Việc phân loại pháp nhân thành pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại, tuy đã thể hiện cách tiếp cận mới của BLDS 2015 trên cơ sở có tham khảo kinh nghiệm về pháp nhân của một số quốc gia trên thế giới, nhưng căn cứ phân biệt hai loại pháp nhân lại dựa vào việc lợi nhuận của pháp nhân thu được có chia cho các thành viên hay không thì rất khó để phát hiện. “Chưa kể đến việc quy định nếu là pháp nhân thương mại thì lợi nhuận không chia cho các thành viên sẽ trở thành “rào cản” cho các pháp nhân phi thương mại pháp triển, khiến cho mục tiêu xã hội hóa các hoạt động công ích có thể trở nên xa vời, thiếu thực tế”. Thêm vào đó, việc phân loại như trên của nhà làm luật có vẻ như có sự nhầm lẫn, không phân biệt được giữa tìm kiếm lợi nhuận và việc sử dụng lợi nhuận kiếm được. Những tổ chức hoạt động vì tìm kiếm lợi nhuận nhưng lại sử dụng lợi nhuận đấy vào những mục đích công ích sẽ không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật. Ví dụ như các trường mầm mon tư thục, trường đại học tư lập,.. Hay có rất nhiều quỹ có tư cách pháp nhân hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và để phục vụ các lợi ích công cộng như “quỹ tài chính công ngoài ngân sách nhà nước”, ví dụ Quỹ Bảo trì đường bộ, Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam, Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, Quỹ Phòng chống thiên tai, Quỹ Phòng chống tội phạm… Các quỹ này hoạt động phải bảo toàn vốn điều lệ và tự bù đắp chi phí quản lý, vì vậy nhiều quỹ được cho phép sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư sinh lợi nhằm đáp ứng những yêu cầu đó.

Khoản 1 Điều 77 BLDS 2015 đòi hỏi khá nhiều điều khoản bắt buộc trong nội dung điều lệ của pháp nhân: nào là tên gọi; mục đích và phạm vi hoạt động; trụ sở chính; chi nhánh, văn phòng đại diện nếu có; vốn điều lệ; đại diện theo pháp luật; cơ cấu tổ chức; thể thức cử, bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức,… Mặc dù Bộ luật đã cố gắng để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi cá nhân, pháp nhân điều có quyền thành lập pháp nhân mới, tuy nhiên nên hạn chế bớt những thủ tục nêu trên bởi với những pháp nhân đặc thù thì có những ngành Luật riêng điều chỉnh.

Đối với quy định về đăng ký pháp nhân, về mặt lý thuyết, mục đích đăng ký pháp nhân là ghi nhận về mặt pháp lý vị trí của pháp nhân, trên cơ sở đó công nhận sự tham gia của pháp nhân trong các quan hệ dân sự với chủ thể khác. Việc đăng ký pháp nhân chính là căn cứ để bảo vệ quyền đối kháng với bên thứ ba. BLDS 2015 chỉ dành riêng một điều luật (cụ thể là Điều 82) cho việc thành lập và đăng ký pháp nhân. Nếu như pháp nhân có quyền tự chủ trong việc quyết định điều lệ của mình, được thành lập theo sáng kiến của cá nhân hoặc pháp nhân và một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi được ghi tên trong sổ đăng ký thì rất khó khăn cho các cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động của pháp nhân bởi Bộ luật không nêu rõ rằng pháp nhân trước khi đăng ký phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra điều luật cũng không đề cập đến thế nào là công bố công khai (ví dụ như công khai qua con đường báo chí hay hình thức nào khác).

BLDS 2015 còn một số hạn chế về vấn đề chấm dứt pháp nhân, cụ thể là chuyển đổi hình thức pháp nhân và chia pháp nhân. Chuyển đổi hình thức pháp nhân về bản chất không phải thành lập lại pháp nhân trên cơ sở pháp nhân được chuyển đổi, tức là sau khi chuyển đổi nó vẫn là pháp nhân chuyển đổi với hình thức kết cấu mới, sản nghiệp không thay đổi. Hơn nữa, pháp nhân chuyển đổi không bị ảnh hưởng đến quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ người thứ ba không bị chấm dứt hay thay đổi quyền yêu cầu đối với pháp nhân chuyển đổi. Điều này cho thấy việc thay đổi hình thức pháp nhân không chấm dứt pháp nhân. Tương tự đối với chia pháp nhân. Khái niệm chấm dứt pháp nhân chưa được thuyết phục, hợp lý.