1. Tính co dãn

Alfred Marshall (26 tháng 7 năm 1842 - 13 tháng 7 năm 1924) là một nhà kinh tế học người Anh. Ông có nhiều đóng góp cho kinh tế học.

Trong một đóng góp quan trọng, Marshall mô tả và phân loại khái niệm tính co dãn của mức cầu. Quan điểm này không phải chỉ có riêng ở ông (Fleeming Jenkin cũng đã ám chỉ vào năm 1870), nhưng nói chung, ông đã phát triển khái niệm rất nhiều so với Fleeming Jenkin và khái niệm tính co dãn của mức cầu trở thành khái niệm của riêng ông. Khi Marsahll đã nêu:

“Tính co dãn (hay đáp ứng nhanh) của mức cầu trong thị trường nhiều hay ít tùy theo số lượng được yêu cầu tăng nhiều hay ít đối với sự giảm giá, và giảm nhiều hay ít đối với sự tăng giá” (Principles, trang 102)

Tính co dãn, ngày nay là một khái niệm quen thuộc với sinh viên kinh tế học nhập môn, được định nghĩa đơn giản là sự thay đổi phần trăm trong số lượng được yêu cầu chia cho sự thay đổi phần trăm về giá. Theo đại số, N = [AQ /Q ]-ỉ- [AP/Pịư3?- Nhu cầu được xem là co dãn khi ND lớn hơn 1, không co dãn khi nhỏ hơn 1, và xem là tính co giãn đơn vị khi bằng 1.

Marshall cũng đề cập các yếu tố quyết định tính co dãn, có ảnh hưởng sâu rộng sau này, trong số nhiều ví dụ thực tiễn, về cơ bản, ông cho rằng các điều kiện khác, nhu cầu co dãn nhiều hơn:

Tỉ lệ tổng ngân sách của một cá nhân mà số chi tiêu hàng hóa tượng trưng (chẳng hạn muối là thứ cần thiết và cũng tượng trưng một số chi tiêu nhỏ đối với người nghèo và người giàu) lớn hơn:

- Thay đổi giá có hiệu lực lâu hơn (cũng là thời gian)

- Số lượng những thứ thay thế nhiều hơn

- Số lượng sử dụng hàng hóa có thể đưa vào nhiều hơn

2. Sự khác biệt tính co dãn giữa người mua giàu, trung lưu và nghèo

Để đánh giá tốt hơn, Marshall đã đề cập rất nhiều thảo luận về sự khác biệt tính co dãn giữa người mua giàu, trung lưu và nghèo. Trong đoạn văn sau cho thấy ông quan tâm vấn đề giai cấp trong thời Victor liên quan đến ảnh hưởng của thị hiếu về nhu cầu thịt bò:

“Trong các vùng có giai cấp lao động thông thường, thịt chất lượng kém hơn và xương sụn ngon hơn bán ra với giá gần như nhau, nhưng một số thợ thủ công lương cao ở miền bắc Anh phát triển sở thích phải mua loại thịt ngon nhất, và sẽ trả giá gần như là cao nếu so với giá bán ở cực tây thành phố London, nơi giá được giữ ở mức cao giả tạo bằng tính cần thiết khi mang xương sụn chất lượng kém hơn bán ồ nơi khác”. (Principles, trang 107).

Marshall lưu ý:

“Bộ phận có nhu cầu mua loại hàng hóa đắt tiền hơn thực ra là nhu cầu đối với phương tiện để xã hội trọng vọng, và hầu như không thể thỏa mãn” (Principles, trang 106).

Sự hữu dụng trong tính co dãn của mức báo lần chót có thể bằng thảo luận về khái niệm xuất sắc của Marshall tương đối cụ thể trong phân tích ngân sách và tất cả khía cạnh trong lý thuyết tiêu dùng. Nhưng chúng ta sẽ thấy, Marshall mở rộng khái niệm tính co dân và sự hữu dụng của khái niệm từ nhu cầu của người tiêu dùng để bao hàm nhu cầu đối với các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, đất).

Ở đây, cho biết nhu cầu về dao DD, cũng như các hàm cung đối với dao và cán dao SS’ và ssí. Lúc này vấn đề là phải rút ra hàm nhu cầu cán dao, và Marshall sử dụng quy ước sau. Chọn số lượng OM dao. MP là giá theo mức cầu đối với OM dao. Giá cung ứng OM dao là MQ, và giá cung ứng cán dao đối với OM dao là Mq. Sự chênh lệch, Qq, là giá cung ứng OM lưỡi dao. Lúc này để có được giá theo mức cầu đôi với đầu vào cán dao (để sản xuất số lượng OM), Marshall đơn giản lấy giá theo mức cầu đối với dao (MP) ở OM trừ giá cung ứng lưỡi dao (Qq) ở OM. Vì thế, có được giá theo mức cầu Mp (MP-Qq) dành cho cán dao. Dĩ nhiên, Qq, bằng với Pp. Tiến trình tương tự dành cho tất cả các số lượng dao khác, và có thể lần theo hàm cầu dd’ đối với cán dao. Giá theo mức cầu đối với lưỡi dao hoàn toàn là sự chênh lệch giữa giá theo mức cầu về dao tổng cộng và giá theo mức cầu phái sinh đối với cán dao. Giá cung ứng lưỡi dao được đưa ra khách quan bằng sự chênh lệch giữa hai hàm cung SS’ và ss’.

Sự cân bằng diễn ra khi số lượng OB dao được sản xuất ở giá BA. Nhu cầu phái sinh về cán dao dd’ giao nhau với hàm cung cán dao ở a, và giá cân bằng phải trả cho cán dao là Ba. Ngoài ra, ở giá Aa, được trả cho lưỡi dao ở sự cân bằng. (Rõ ràng Ba + aA - BA). Nhu cầu đối với bất kỳ đầu vào có thể rút ra, nếu người ta biết giá cung ứng của các yếu tố khác và nhu cầu đối với đầu ra sau cùng. Nhưng Marshall đi xa hơn và nghĩ ra một công thức và một loạt các quy tắc để tính toán tính co dãn của nhu cầu phái sinh.

3. Công thức về nhu cầu phái sinh

Công thức của Marshall về nhu cầu phái sinh có thể diễn đạt theo kiểu hiện đại như cách diễn đạt của Martin Bronfenbrenner:

£■ _ SHEsBEDK

DH Esb+Edk(1-Sh)

Trong đó tính co dãn nhu cầu yếu tố sản xuất được xác định là dương. Trong phương trình trên EDH là tính co dãn của nhu cầu về dao, SH là tỉ lệ của tổng phí tổn được tính cho cán dao, ESB là tính co dãn trong mức cung ứng lưỡi dao, còn En„ là tính co dãn nhu cầu về dao.

Liệu có liên quan cụ thể đến lưỡi dao hay cán dao hay không hay đối với một mô thức chung hơn, tất cả các yếu tố khác ngoài yếu tố đang nhắc đến bị sụt giảm thành yếu tố đơn nhất.

4. Định luật tính co dãn nhu cầu yếu tố sản xuất Marshall

Marshall phát biểu “bốn định luật” nổi tiếng của ông khống chế tính co dãn của nhu cầu phái sinh (Principles, trang 385). Marshall phát biểu quy tắc tính co dãn nhu cầu phái sinh theo cách gián tiếp, thận trọng, như thói quen của ông, sử dụng nhiều ví dụ. Để dễ hiểu và chính xác, tốt hơn nên sử dụng cách Pigou phát biểu lại quy tắc của Marshall (The Economics of Welfare, trang 682-685). Thế nhưng bảng liệt kê các định luật theo Marshall (Principles, trang 385-386) hơn là theo Pigou:

Định luật Marshall thứ nhất: “Nhu cầu về mọi thứ chắc chắn co dãn nhiều hơn, những thứ thay thế dễ dàng hơn đối với thứ có thể thu được”.

Định luật Marshal thứ hai: “Nhu cầu về mọi thứ chắc chắn co dãn nhiều hơn, nhu cầu càng co dãn nhiều hơn đối với thứ khác mà nó góp phần tạo ra”.

Định luật Marshal thứ ba: “Nhu cầu về mọi thứ chắc chắn co dãn ít hơn, bộ phận phí tổn của thứ ấy kém quan trọng hơn trong tổng phí tổn của một số thứ khác, được sử dụng trong sản xuất ra nó”.

Định luật Marshall thứ tư: “Nhu cầu về mọi thứ chắc chắn co dãn nhiều hơn, cung cấp của các yếu tố hợp tác sản xuất càng co dãn nhiều hơn”.

Nói chung, định luật Marshall được sinh viên của ông và thành viên trong trường phái Cambridge bảo vệ. 42 năm trôi qua từ khi xuất bản quyển Principles lần thứ nhất (1890) và sự ra đời quyển Theory of Wages (1932) của Hicks. Dường như trong thời gian chuyển tiếp, sự tham khảo duy nhất có ý nghĩa về tính co dãn nhu cầu yếu tố phái sinh là sự phát biểu lại các định luật Marshall của Pigou.Trong một phụ lục quyển The Theory of Wages nhan đề “The Elasticity of Derived Demand,” Hicks tiến hành đánh giá lại có hệ thống các định luật Marshall về nhu cầu đầu vào phái sinh. Trong quyển sách quan trọng này, Hicks là người đầu tiên phát triển khái niệm tính co dãn thay thế (mặc dù được Joan Robinson trình bày hầu như tương tự và hoàn toàn độc lập). Hicks định nghĩa tính co dãn thay thế như sự thay đổi tỉ lệ trong tỉ lệ vốn/lao động (hay bất kỳ hai đầu vào) liên quan đến sự thay đổi về tỉ lệ thay thế kỹ thuật biên tế, đầu ra vẫn giữ nguyên không đổi.

Bổ sung hệ số thay thế này, Hick phân tích bốn định luật Marshall bằng toán học trong phụ lục quyển The Theory Of Wages. Mặc dù định luật thứ ba của Marshall về tính co dãn đầu vào phần chia tương đối được khẳng định, nhưng Hicjk nhận thấy trong giá cung ứng của các yếu tố đang tăng. Định luật thứ ba của Marshall cho rằng nếu và chỉ nếu tính co dãn của nhu cầu hàng hóa vượt quá tính co dãn thay thế (vì Marshall khẳng định tính co dãn thay thế bằng 0, ông đúng). Nghĩa là đây là điều “quan trọng trở thành không quan trọng” nếu và chỉ nếu người tiêu dùng thay thế trong tiêu dùng dễ dàng hơn là các nhà sản xuất thay thế trong sản xuất.

Có sự mâu thuẫn đáng kể liên quan đến điểm sau cùng này, nghĩa là điều quan trọng trở thành không quan trọng. Tất cả điều này chứng minh rằng đóng góp của Marshall phải được các lý thuyết gia hàng đầu hậu Marshall xem là đóng góp quan trọng nhất. Ngoài ra, cũng minh họa một lĩnh vực quan tâm về lý thuyết xác định khác mà Marshall hình thành trong Principles Of Economics.

5. Tìm hiểu về khu công nghiệp Marshallian

Một khái niệm dựa trên một mô hình tổ chức phổ biến vào cuối thế kỷ XIX ở Anh, trong đó các công ty tập trung vào sản xuất một số sản phẩm nhất định được tập trung lại về mặt địa lý. Nhận xét của Marshall trong Quyển 4, Chương 10 của Các Nguyên tắc Kinh tế đã được các nhà kinh tế học và các nhà địa lý kinh tế sử dụng để thảo luận về hiện tượng này.

Hai đặc điểm nổi trội của khu công nghiệp Marshallian là mức độ chuyên môn hóa cao và chuyên môn hóa theo chiều dọc và sự phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế thị trường để trao đổi. Các doanh nghiệp có xu hướng nhỏ và tập trung vào một chức năng duy nhất trong chuỗi sản xuất. Các công ty nằm trong các khu công nghiệp có tính cạnh tranh cao theo nghĩa tân cổ điển, và trong nhiều trường hợp, có rất ít sự khác biệt về sản phẩm. Những lợi thế chính của các khu công nghiệp Marshallian bắt nguồn từ sự thành lập đơn giản của các công ty, cho phép dễ dàng tuyển dụng lao động có tay nghề cao và trao đổi nhanh chóng thông tin thương mại và kỹ thuật thông qua các kênh không chính thức. Chúng minh họa chủ nghĩa tư bản cạnh tranh ở mức hiệu quả nhất, với chi phí giao dịch giảm đến mức tối thiểu thực tế, nhưng chúng chỉ khả thi khi tính kinh tế theo quy mô bị hạn chế.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)