Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Lao động năm 2019;

- Luật Việc làm số 38/2013/QH13;

- Nghị định 28/2020/NĐ-CP

1. Khái quát về học nghề, dạy nghề và hợp đồng đào tạo nghề

Các quy định về học nghề, dạy nghề và hợp đồng đào tạo nghề được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 quy định như sau :

1.1. Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động

- Học nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc. Thời gian học nghề theo chương trình đào tạo của từng trình độ theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

- Tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vị trí việc làm tại nơi làm việc. Thời hạn tập nghề không quá 03 tháng.

- Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; không được thu học phí; phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

- Người học nghề, người tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.

- Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận.

- Hết thời hạn học nghề, tập nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật này.

1.2. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề

- Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.

- Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Nghề đào tạo;

b) Địa điểm, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo;

c) Thời hạn cam kết phải làm việc sau khi được đào tạo;

d) Chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

đ) Trách nhiệm của người sử dụng lao động;

e) Trách nhiệm của người lao động.

- Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo.

2. Trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề như thế nào ?

2.1 Trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề của người sử dụng lao động

Theo Khoản 1 Điều 48 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Tuy nhiên kèm theo trách nhiệm này là một số trách nhiệm cơ bản khác của người sử dụng lao động đối với người lao động của mình và cơ quan quản lý Nhà nước:

- Doanh nghiệp phải lập phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động và phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

- Doanh nghiệp phải thực hiện đúng theo phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động đã được phê duyệt:

+ Sử dụng nguồn kinh phí được hỗ trợ cho đúng đối tượng, đúng mục đích

+ Thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động đúng theo như đã lên kế hoạch với số lượng người lao động tham gia đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề cũng như chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề theo đúng phương án đã đề ra

- Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động, người sử dụng lao động phải báo cáo kết quả tổ chức đào tạo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động cũng như xác định nguồn kinh phí chính xác cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề

- Nếu số tiền được hỗ trợ lớn hơn kinh phí được sử dụng cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động thực tế thì người sử dụng lao động phải tiến hành trả lại cho cơ quan bảo hiểm xã hội

2.2 Trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề của người lao động

Theo Khoản 2 Điều 48 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013, người lao động có trách nhiệm thực hiện quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Trong đó cơ bản là:

- Người lao động phải thực hiện theo đúng phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề của người sử dụng lao động

- Tham gia đầy đủ chương trình đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề do người sử dụng lao động tổ chức (nếu người lao động thuộc diện tham gia)

- Không nhận kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề của người sử dụng lao động mà không tham gia đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề (tức người sử dụng lao động nhận kinh phí hỗ trợ để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề cho người lao động mà chỉ trả tiền cho người lao động mà không tổ chức đào tạo thì cả người lao động và người sử dụng lao động đều vi phạm quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề)

Ngoài các vấn đề trên, người lao động còn phải thực hiện các quy định khác về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề; an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghề,…

3. Mức phạt hành vi vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

Mức phạt đối với hành vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề được quy định tại Điều 13 Nghị định 28/2020/NĐ-CP như sau:

Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Không đào tạo nghề cho người lao động trước khi chuyển người lao động sang làm nghề, công việc khác; không ký kết hợp đồng đào tạo nghề đối với người học nghề, tập nghề; không trả lương cho người học nghề trong thời gian họ học nghề, tập nghề mà trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách; không ký kết hợp đồng lao động đối với người học nghề, người tập nghề khi hết thời hạn học nghề, tập nghề, theo một trong các mức sau đây:

- Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

- Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

- Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật;

- Tuyển người dưới 14 tuổi vào học nghề, tập nghề, trừ những nghề, công việc được pháp luật cho phép.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

Biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 28/2020/NĐ-CP như sau:

- Buộc trả lương cho người học nghề, người tập nghề khi có hành vi không trả lương cho người học nghề trong thời gian học nghề, tập nghề mà trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách quy định: "Không đào tạo nghề cho người lao động trước khi chuyển người lao động sang làm nghề, công việc khác; không ký kết hợp đồng đào tạo nghề đối với người học nghề, tập nghề; không trả lương cho người học nghề trong thời gian họ học nghề, tập nghề mà trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách; không ký kết hợp đồng lao động đối với người học nghề, người tập nghề khi hết thời hạn học nghề, tập nghề".

- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ việc thực hiện hành vi lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định "Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật;"

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!