Sự ép giá (price squeezing) là một loại hợp đồng hạn chế cạnh tranh trong đó các doanh nghiệp sáp nhập theo chiều dọc tìm cách gây phương hại tới những đối thủ cạnh tranh không chịu sáp nhập. Sự ép giá xảy ra khi các doanh nghiệp sáp nhập sản xuất cả nguyên liệu và hàng hoá cuối cùng, trong khi các doanh nghiệp không sáp nhập chi sản xuất hàng hoá cuối cùng và phải dựa vào nguồn cung về nguyên liệu từ các doanh nghiệp sáp nhập. Trong những trường hợp như vậy, các doanh nghiệp sáp nhập thỏa thuận với nhau là sẽ bán hàng cho các doanh nghiệp không sáp nhập với mức giá cao hơn và bán hàng hoá cuối cùng với giá thấp hơn, làm cho các doanh nghiệp này chỉ thu được mức lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ.
Nếu doanh nghiệp sáp nhập sản xuất cả nguyên liệu và hàng hoá cuối cùng, còn các doanh nghiệp không sáp nhập chỉ sản xuất nguyên liệu và phụ thuộc vào các doanh nghiệp sáp nhập về thị trường tiêu thụ, thì các doanh nghiệp sáp nhập có thể buộc các doanh nghiệp không sáp nhập bán nguyên liệu cho mình với giá thấp hơn giá mua của các doanh nghiệp sáp nhập. Thủ đoạn này cũng làm cho các doanh nghiệp không sáp nhập chỉ thu dươc mức lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ.
Fisher, Irving (1867 - 1947) là ai ?
Fisher, Irving (1867 - 1947) là một trong những nhà kinh tế vĩ đại nhất của Mỹ. Ông là người đồng sáng lập và chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Kinh tế lượng vào năm 1930. Các công trình nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào việc tìm kiếm khả năng vận dụng bằng số, vì theo Ông lý thuyết sẽ không có tác dụng nếu không dẫn tới nghiên cứu ứng dụng và phân tích mặt lượng trên cơ sở số liệu thực tế. Năng lực của ông chủ yếu tập trung ở khả năng kết hợp các lý thuyết khác nhau một cách nhất quán về lô gích và cực kỳ dễ hiểu. Ông có những đóng góp quan trọng vào các lợi tư bản, lãi suất, tiền tệ, chỉ số và lý thuyết về độ trễ phân phối.
Trong cuốn Bản chất của tư bản và thu nhập (1906), ông đã phân tích mối quan hệ giữa hai khái niệm này và lý giải giá trị của tư bản bằng cách đưa ra khái niệm giá trị chiết khấu của dòng thu nhập tương lai dự kiến. Trong cuốn Sức mua của tiền (1911), ông đã xây dựng lý thuyết số lượng tiền tệ và đưa ra phương trình số lượng nổi tiếng sau dây:
MV = PQ
Trong đó, M là khối lượng tiền tệ trong lưu thông, V là tốc độ lưu thông hay chu chuyển của tiền, Q là tổng khối lượng giao dịch và P là mức giá. Ông sử dụng phương trình này để lý giải nguyên nhân của sự thay đổi mức giá khi giả định V và Q không thay đổi. Ông cũng ý thức được những hạn chế cửa lý thuyết này vì V và Q có thể thay đổi. Trong cuốn lý thuyết về lãi suất (1930), ông đã lý giải quá trình xác định lãi suất bằng cách đưa ra quan điểm cân bằng cung cầu về vốn vay. Sự cân bằng này còn chịu ảnh hưởng của sở thích theo thời gian, năng suất của đầu tư và tỷ lệ lợi nhuận so với chi phí.
Trong cuốn Xây dựng chỉ số (1922), ông tìm cách xác định các đặc tính của một chỉ số khả thi tốt nhất để phản ánh những thay đổi trong sức mua của tiền và cho rằng số bình quân nhân của chỉ số Laspeyres và Paasche là chỉ số lý tưởng nhất. Ngoài việc nhận thức được mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai khi xác định giá trị của tư bản bằng giá trị chiết khấu của các khoản thu nhập tương lai, ông cũng nhận thấy mối liên hệ trực tiếp, gắn bó giữa hiện tại và quá khứ. Chính nhân thức này đã thôi thúc Ông nghiên cứu các tính chất của độ trễ phân phối.