1. Xã hội Việt Nam là xã hội khoan dung

Do tính chất cộng đồng, văn hoá Việt Nam để cao tập thể hơn cá nhân và trong nền văn hoá trọng cộng đồng như vậy, con người sinh ra trước hết và chủ yếu là con người cộng đồng. Trong công trình của một tác giả người Pháp khi nghiên cứu tính cách người Việt, tác giả đã đi đến kết luận là người Việt có tính cách dung hoà (compromis). Việt Nam có cả một truyền thống hòa. Hoà là bản sắc văn hóa, là đặc thù tâm lý dân tộc. Trọng tam tài (thiên thời, địa lợi, nhân hòa) người Việt thiên về tài nhân hòa. Người Việt nhìn quyền lực tồn tại trong một thế hoà thống nhất. Truyền thông hoà sinh ra cách tư duy luôn coi đối tượng như một chỉnh thể mà các bộ phận của nó luôn hoà hợp với nhau, liên kết với nhau. Vì thế, nhìn chung, có thể nói xã hội Việt Nam là xã hội khoan dung theo nghĩa có tình cảm hoà hiếu, đùm bọc, cố gắng giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và phát triển, xóa nghèo, xóa mù chữ nâng cao văn hóa, làm từ thiện giúp đỡ những người bất hạnh nghèo khó, tàn tật, nạn nhân chất độc da cam, người có HIV/AIDS, giúp người cai nghiện ma túy...

2. Cuộc khảo sát trong giới sinh viên

Theo số liệu điều tra giá trị trên 1000 người, tiến hành năm 2003 (đề tài KX05.07), có tới 74% số người trả lời đã lựa chọn khoan dung là phẩm chất quan trọng thứ tư (sau tính tự lập, có trách nhiệm và cần cù) cần phải giáo dục cho con cháu trong gia đình.

Trong kết quả điều tra sinh viên, quan điểm khoan dung của sinh viên được đánh giá qua thái độ của họ đối với những nhóm đối tượng xã hội mà họ không muốn làm hàng xóm. Các đối tượng được lựa chọn ở đây bao gồm 10 nhóm: (1) Người có tiền án; (2) Người nghiện rượu nặng; (3) Người có tình cảm không ổn định; (4) Người Cơ đốc giáo; (5) Người Hồi giáo; (6) Công dân nước ngoài/người nhập cư; (7) Người có HIV/AIDS; (8) Người nghiện ma túy; (9) Người đồng tính luyến ái và (10) Người khác chủng tộc.

Kết quả khảo sát cho thấy, sinh viên vẫn tỏ thái độ kỳ thị nhất định đối với một số nhóm thể hiện ở lựa chọn không muốn làm hàng xóm nhất với nhóm người nghiện, có tiền án tiền sự, trong đó, người nghiện ma túy - 72,9%, người nghiện rượu nặng - 68,4% và người có tiền án - 65,3%. Bên cạnh đó, người đồng tính luyến ái và người có HIV/AIDS cũng là nhóm đối tượng có tỷ lệ sinh viên lựa chọn không muốn làm hàng xóm khá cao (lần lượt là 62,4% và 43,7%). Điều này phần nào cho thấy sự kỳ thị, phân biệt của sinh viên đối với các nhóm xã hội này còn khá nặng nề. Có thể lý giải điều này là do ảnh hưởng từ những quan niệm cũ, thường đồng nhất một cách sai lầm người đồng tính luyến ái và người có HIV/AIDS là nhóm tệ nạn xã hội, mặc dù sinh viên là tầng lớp có học so với đông đảo các tầng lớp khác trong xã hội.

Nhóm người ít bị phân biệt khi lựa chọn làm hàng xóm nhất là nhóm người nhập cư/công dân nước ngoài và người khác chủng tộc (chỉ chiếm tỷ lệ lần lượt là 5,5% và 8,7%). Bên cạnh đó, sự phân biệt tôn giáo ở sinh viên cũng không quá lớn bởi tỷ lệ sinh viên không muốn làm hàng xóm với người Cơ đốc giáo và người Hồi giáo chiếm tỷ lệ không cao (lần lượt là 19,7% và 21,1%).

3. Khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Hồ Chí Minh đã đặt khoan dung lên hàng đầu trong các phẩm chất nhân cách của con người cần được giáo dục, rèn luyện.

"Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người, ở niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém; từ đó Người nhắc nhở chúng ta "phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi". "Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ".

Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với cách mạng, Người cũng khuyên "không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới,... mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung". Để làm được điều đó, Người nhắc nhở chúng ta phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi. "Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu".

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của văn hoá nhân loại, là chấp nhận giao lưu, đối thoại, tìm ra cái chung, nhằm đạt tới sự hoà đồng, cùng phát triển.

Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hoá. Trong khi chống Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hoá Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây. Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao lưu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận đối thoại về giá trị, là truy tìm cái chung, cái nhân loại để hòa đồng. Người đã viết: "Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ".

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên "quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" của mỗi con người và mỗi dân tộc. Người nói: "Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân".

4. Những đối tượng không nên khoan dung

Ngoài ra, còn có những lực lượng không khoan dung bị xã hội lên án - như Hồ Chí Minh đã từng nói: “Ai đã phạm những lỗi lầm thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung". Hiện nay, đó là các lực lượng buôn lậu ma túy, lâm tặc phá rừng, tham nhũng và tội phạm.

Khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự thể hiện chính sách khoan dung của Đảng và Nhà nước đối với những người thực hiện tội phạm biết sửa chữa lỗi lầm.

Khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.

Về cơ bản, việc vận dụng quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để miễn trách nhiệm hình sự cho người thực hiện hành vi phạm tội cần được thực hiện linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và đặc thù của từng vụ việc, từng nơi, và quan trọng nhất là sự thống nhất quan điểm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về đường lối giải quyết vụ án. Trên cơ sở đó, cần có cách thức giải quyết và áp dụng khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 hợp lý, hợp tình và đúng quy định của pháp luật, tránh áp dụng tràn lan, tùy tiện… Hay nói cách khác, việc áp dụng quy định này cần linh hoạt, đúng pháp luật, tránh cứng nhắc, hình thức, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

5. Đặc xá thể hiện tính khoan hồng của Đảng, Nhà nước

Từ khi nước ta giành được độc lập năm 1945 đến nay, đã rất nhiều lần Nhà nước đặc xá tha tù trước thời hạn cho phạm nhân. Ðiểm nổi bật là trong số các phạm nhân được đặc xá, số người tái vi phạm pháp luật chiếm tỷ lệ khá thấp. Ðiều đó cho thấy, đặc xá là một chủ trương lớn, đúng đắn, thể hiện chính sách khoan hồng của Ðảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc ta đối với người bị kết án phạt tù, nhằm khuyến khích họ phấn đấu, học tập, rèn luyện, tiến bộ, trở thành người có ích cho xã hội.

Theo số liệu thống kê của Bộ Công an, từ năm 1990 đến nay, Chủ tịch nước đã quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho hơn 142 nghìn người. Ðó là những người đang cải tạo tại các trại giam, trại tạm giam trong cả nước, có quá trình phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng cải tạo tốt. Ðiều đáng mừng là trong tổng số người được hưởng lệnh đặc xá của Chủ tịch nước, số người tái vi phạm pháp luật thấp, năm 2000 (3,8%), năm 2007 (0,117%). Hai đợt đặc xá của năm 2009, mặc dù số người được đặc xá lớn (20.599 người) nhưng cũng chỉ có 150 người được đặc xá tái phạm (chiếm 0,72%) và năm 2010, chỉ có 103 người được đặc xá tái vi phạm pháp luật (chiếm 0,59%).

Tỷ lệ người được đặc xá tái vi phạm pháp luật thấp là do công tác xét duyệt đặc xá bảo đảm tính công bằng, đúng luật, đúng đối tượng, nhất là từ khi Quốc hội thông qua Luật Ðặc xá; mặt khác do lực lượng công an, chính quyền cơ sở và các đoàn thể phối hợp chặt chẽ trong công tác tiếp nhận, động viên, giúp đỡ về việc làm, ổn định cuộc sống để người được đặc xá tái hòa nhập cộng đồng, không vi phạm pháp luật và bản thân họ có quá trình rèn luyện, cải tạo tốt.

Ngày 21-11-2007, Quốc hội nước ta thông qua Luật Ðặc xá và luật có hiệu lực từ ngày 1-3-2008. Ngày 4-7-2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2008/NÐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ðặc xá. Luật Ðặc xá khẳng định tính nhân đạo, tính nhân văn sâu sắc trong chính sách của Ðảng và Nhà nước ta.

Thực hiện chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương đã nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để tạo điều kiện giúp đỡ người được đặc xá sống hoàn lương, hòa nhập cộng đồng. Tại các trại giam, trại tạm giam đã tổ chức triển khai các lớp học để trang bị kiến thức và tạo điều kiện cần thiết cho người được đề nghị đặc xá hòa nhập cộng đồng, hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá; Luật Giao thông đường bộ; Luật Cư trú, kiến thức về phòng, chống ma túy, HIV/AIDS; kỹ năng tìm kiếm việc làm; kỹ năng hòa nhập cộng đồng... trong đó chú trọng làm tốt công tác tư vấn cá nhân, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và giúp người được đặc xá giải quyết những khó khăn, vướng mắc nhất là những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Ðồng thời, lồng ghép các nội dung giáo dục với các hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí; phối hợp công an địa phương mời một số gương hoàn lương tốt, tích cực hòa nhập cộng đồng đến trại giam trao đổi, tư vấn cho phạm nhân để họ vững tâm trở về hoàn lương.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)