1. Tội gián điệp là gì?

Tội phạm “Tội gián điệp” được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích của người phạm tội là chống chính quyền nhân dân. Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Động cơ phạm tội rất đa dạng như hận thù giai cấp, vụ lợi, cơ hội chính trị…nhưng không phải dấu hiệu định tội, mà chỉ có thể là dấu hiệu xem xét khi quyết định hình phạt.
Bảo vệ an ninh chính trị là hoạt động mang tính đặc thù ở mỗi quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, chế độ chính trị sẽ bị xử lý theo quy định.
Tội gián điệp là hành vi của công dân Việt Nam hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại nhằm chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được quy định lần đầu tiên tại Bộ luật hình sự 1985. Tội danh này thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội, chế độ Nhà nước, xâm hại sự tồn tại, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bao gồm tội gián điệp là những tội có tính chất nguy hiểm cao nên luật quy định hình phạt rất nghiêm khắc như: tử hình, tù chung thân hoặc tù có thời hạn với mức cao.
Gián điệp là hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại hoặc cung cấp, thu thập thông tin bí mật Nhà nước cho nước ngoàiđể chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Gián điệp là Hành vi thu thập, cung cấp cũng như hành vi khác liên quan đến việc thu thập, cung cấp các bí mật nhà nước cũng như các thông tin khác giúp cho nước ngoài chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Gián điệp là hành vi đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia.

2. Tội gián điệp được quy định như thế nào theo Bộ Luật hình sự hiện hành?

Điều 110. Tội gián điệp
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hĩnh:
a) Hoạt động tĩnh báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chổng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vỉ khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;
c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chổng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này.

3. Bình luân Tội gián điệp được quy định tại Điều 110 Bộ luật hình sự hiện hành?

Điều luật gồm 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội gián điệp; khoản 2 quy định khung hình phạt giảm nhẹ cho trường hợp ít nghiêm trọng, khoản 3 quy định khung hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội và khoản 4 quy định trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 1 của điều luật, tội gián điệp gồm 03 trường họp phạm tội với các dấu hiệu pháp lý riêng. Cụ thể:
* về trường hợp phạm tội thứ nhất - Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Đây là hành vi của người không phải là công dân Việt Nam, có thể là người có quốc tịch nước ngoài hoặc là người không có quốc tịch. Việc thực hiện hành vi phạm tội gián điệp của họ là phục vụ cho nước ngoài (tổ chức nước ngoài hoặc nhà nước nước ngoài) chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Hành vi phạm tội gián điệp ở trường hợp này có thể là hành vi hoạt động tình báo, phá hoại và cũng có thể là hành vi gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại. Trong đó, các hành vi này cần được hiểu như sau:
+ Hoạt động tình báo là hoạt động điều tra, thu thập tin tức về đường lối, chính sách, chủ trương của Nhà nước cũng như về tình hình thực tế của Việt Nam trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao... bằng những phương thức, thủ đoạn khác nhau để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
+ Hoạt động phá hoại bao gồm phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật, phá hoại việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam như chính sách kinh tế - xã hội, chính sách đoàn kết v.v..
+ Hành vi gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại là hành vi chuẩn bị điều kiện cần thiết cho hoạt động tình báo, phá hoại về địa điểm và người trợ giúp.
* về trường hợp phạm tội thứ hai - Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại
Trường hợp phạm tội này bao gồm hai loại hành vi phạm tội: Hành vi của công dân Việt Nam tạo điều kiện cho hoạt động tình báo, phá hoại (nói ở trường họp thứ nhất) chống nước Cộng hoà XHCN Vỉệt Nam và hành vi hoạt động thám báo.
Hành vi tạo điều kiện cho hoạt động tình báo, phá hoại có thể được thể hiện ở một trong các dạng sau:
+ Hành vi gây cơ sở hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam của công dân Việt Nam theo sự chỉ đạo của nước ngoài;
+ Hành vi chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường cho người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam của công dân Việt Nam;
+ Các hành vi khác (ngoài các hành vi kể trên) của công dân Việt Nam giúp người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Ngoài các hành vi trên, hoạt động thám báo cũng được quy định là một dạng hành vi thuộc trường hợp thứ hai của tội gián điệp. Trong đó, hoạt động thám báo được hiểu là một dạng hoạt động tình báo có đặc thù là kết hợp với hoạt động vũ trang phá hoại và xảy ra trong thời gian có chiến tranh.
* về trường hợp phạm tội thứ ba - Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà XHCN Vỉệt Nam
Trường hợp phạm tội gián điệp thứ ba này có các dạng hành vi phạm tội khác nhau và chủ thể thực hiện đều là công dân Việt Nam. Đó có thể là:
+ Hành vi cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài: Đây là hành vi của công dân Việt Nam chuyển bằng các phưọng thức khác nhau những thông tin (dưới dạng tài liệu hoặc báo cáo của cá nhân) có nội dung thuộc bí mật nhà nước cho nước ngoài. Trong đó, “Bí mật nhà nước là những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điếm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đoi ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. ” Bí mật nhà nước được phân loại thành 3. loại: “Tuyệt mật”, “Tối mật” và “Mật”. Danh mục 3 loại bí mật nhà nước được liệt kê cụ thể tại các điều 5, 6 và 7 Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000. Thông tin thuộc bí mật nhà nước mà người phạm tội có được có thể do vị trí công tác của chính họ hoặc vì lý do khác.
+ Hành vi thu thập bí mật nhà nước nhằm cung cấp cho nước ngoài: Đây là hành vi của công dần việt Nam thu thập bằng các cách thức khác nhau những thông tin có nội dung thuộc bí mật nhà nước với mục đích sẽ cung cấp những thông tin đã thu thập được cho nước ngoài.
+ Hành vi thu thập, cung cấp những thông tin không thuộc bí mật nhà nước cho nước ngoài với mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Chủ thể của tội phạm đối với cả ba loại trường hợp được nêu trên theo quy định của Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội gián điệp không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
1. Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt giảm nhẹ có mức phạt tù từ 05 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường họp ít nghiêm trọng. Đây là trường họp phạm tội gián điệp nhưng do có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã làm giảm đáng kể mức độ nguy hiểm của người phạm tội và hành vi phạm tội hoặc là trường hợp “người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm”. Các tình tiết giảm nhẹ ở đây có thể là: Người phạm tội vì lạc hậu, bị dụ dỗ, mua chuộc hoặc bị ép buộc nhận làm gián điệp; chưa có hoạt động thu thập tình báo, phá hoại; hoặc đã thu thập tin tức, tài liệu nhưng chưa cung cấp; có một số hoạt động nhưng chưa gây hậu quả đáng kể...
2. Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường họp chuẩn bị phạm tội gián điệp. Quy định này là điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999, thể hiện rõ đường lối xử lý có sự phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng giữa trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường họp tội phạm hoàn thành ờ tội gián điệp.
3. Khoản 4 của điều luật quy định trường họp được miễn trách nhiệm hình sự. Đây là trường hợp đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và đã tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3.1 Về mặt khách quan của tội phạm:

- Về hành vi:
+ Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống phá nhà nước;
+ Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài;
+ Hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;
+ Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài;
+ Thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống phá Nhà nước;
Trong đó:
+ Hoạt động tình báo: Là hoạt động của cá nhân nhằm điều tra, thu thập các tin tức, tài liệu trong nước để sử dụng nhằm chống phá Nhà nước, chống quá chính quyền nhân dân.
+ Hoạt động gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại: Là hoạt động của cá nhân nhằm lôi kéo, xúi giục các cá nhân khác tham gia hoạt động gián điệp như là các điểm tụ tập, ẩn náu để hoạt động bí mật,... nhằm chống phá Nhà nước, chống phá chính quyền nhân dân.
+ Hoạt động phá hoại: Là hoạt động của cá nhân nhằm phá hủy các điều kiện, cơ sở vật chất của đất nước; gây cản trở cho việc thực hiện, hoàn thành các chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc trong quần chúng nhân dân,...
+ Hoạt động thám báo: Là hành động của cá nhân nhằm thu thập các thông tin về an ninh, quốc phòng của quốc gia, để phục vụ cho hoạt động tình báo, phá hoại,... nhằm chống phá Nhà nước, chống puá chính quyền nhân dân.
- Về mặt hậu quả: Phá hoại, chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; làm suy yếu chính quyền nhân dân.

3.2 Về mặt chủ quan của tội phạm:

- Về lỗi: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp.
Theo đó, theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 thì cố ý phạm tội trực tiếp là hành vi của người phạm tội, mà khi đó người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
- Mục đích: Nhằm phá hoại, chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm suy yếu chính quyền nhân dân.

3.3 Mặt khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến an ninh quốc gia, sự vững mạnh của hệ thống chính quyền nhân dân.

3.4 Về mặt chủ thể của tội phạm:

Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ.
Hình phạt đối với người phạm tội gián điệp:
Tùy vào trừng trường hợp cụ thể, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội gián điệp có thể bị phạt tù từ 05 năm đến đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình (Đây là hình phạt chính).
Đối với trường hợp người chuẩn bị phạm tội gián điệp thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (Đây là hình phạt chính).
Tuy nhiên, trường hợp người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội gián điệp.

4. Ví dụ về tội gián điệp

A (là công dân Việt Nam) là phóng viên của một tờ báo ra hàng ngày nhưng bất mãn vì không được đề bạt vào vị trí lãnh đạo. A thường tâm sự với B và C (là thành viên của một tổ chức chính trị nước ngoài). Biết rõ thái độ của A, B và C đề nghị A sưu tầm những thông tin đăng tải trong nước về những tồn tại, bất cập, khiếm khuyết của đất nước. B đã trả cho A 20 triệu đồng và A biết được rằng B và C sẽ gửi số tài liệu sưu tầm cho tổ chức nước ngoài để sử dụng chống lại Việt Nam.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê