Mục lục bài viết
1. Khái quát
Ấn Độ là một trong những nền văn minh lớn của phương Đông cũng như của nhân loại thời cổ đại. Văn minh Ấn Độ phát triển rực rỡ, huy hoàng trên nhiều lĩnh vực như chữ viết, văn học, toán học, nghệ thuật,… với những đóng góp to lớn cho nền văn minh nhân loại. Trong đó không thể không kể đến lĩnh vực tôn giáo. Dân tộc Ấn Độ là một dân tộc mộ đạo. Nói tới văn hóa Ấn Độ, chúng ta không thể bỏ qua sự phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu rộng của tôn giáo tới đời sống xã hội Ấn Độ. Đất nước Ấn Độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất là Đạo Bà La Môn mà về sau này là Hinđu Giáo và Đạo Phật. Ngoài ra còn có một số tôn giáo khác như đạo Jaina, đạo Xích. Ngày nay, ở Ấn Độ chỉ có đạo Hinđu được coi là quốc giáo. Đạo Phật tuy không còn phát triển mạnh ở cái nôi đã sinh ra nó nhưng lại lan tỏa rộng rãi và có ảnh hưởng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đạo Phật thực sự đã trở thành một tôn giáo thế giới. Vì sao mà Đạo Phật lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, rộng rãi tới như vậy? Đó là bởi những tư tưởng giáo lí mang đậm tính nhân đạo, nhân văn hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mĩ đích thực phù hợp với rất nhiều nền văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta cùng đi tìm hiểu một vài nét cơ bản trong giáo lí Đạo Phật để hiểu rõ hơn nguyên nhân đã làm cho nó trở nên phổ biến rộng rãi đến như vậy.
Đầu tiên, về sự ra đời và phát triển của Đạo Phật: Phật giáo là một trường phái triết học-tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI TCN ở miền Bắc ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn Độ với Nêpan hiện nay. Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ đó. Người sáng lập Đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni có tên thật là Siddharha(Tất Đạt Đa) họ là Gautama(Cù Đàm), con trai đầu của vua Suddhodana(Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô là thành Kapilavatthu (Ca- tỳ- la- vệ). Ông là người rất thông minh, được hưởng một nền giáo dục đầy đủ và trở thành một nhân tài song toàn văn võ. Mặc dù được sinh ra và lớn lên trong một môi trường nhung lụa vương giả, được hưởng tất cả những điều kiện tốt nhất của cuộc sống nhưng Thái tử Tất Đạt Đa vẫn trăn trở về những đau khổ của con người trong cuộc đời bên ngoài cuộc sống giàu sang trong cung điện của mình. Năm 29 tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả đi tu luyện tìm con đường diệt trừ nỗi đau khổ của chúng sinh. Sau 6 năm khổ luyện, ông đã "ngộ đạo", nghĩ ra được cách giải thích bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau, do đó tìm ra con đường giải thoát chúng sinh khỏi bể khổ cuộc đời. Từ đó, Thái tử Tất Đạt Đa được gọi là Budda, ta quen gọi là Phật hay Bụt, nghĩa là “người đã giác ngộ”, “người đã hiểu được chân lí”. Người ta còn gọi ông là “Sakya Muni”(Thích Ca Mầu Ni), tức là “nhà hiền triết xứ Sakya”. Về niên đại của Phật, hiện đang có những ý kiến khác nhau. Có một số người cho rằng Phật sinh năm 563 và mất năm 483 TCN, một số khác thì cho rằng Phật sinh năm 624 và mất năm 544 TCN. Các tín đồ đã lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỉ nguyên của Đạo Phật. Sau khi đắc đạo, Phật đi truyền bá tư tưởng của mình ở khắp nơi, tập hợp những người tin theo tư tưởng ấy hình thành nên các đoàn thể Phật giáo đầu tiên ở Ấn Độ. Như vậy có thể thấy rằng, Thích Ca Mầu Ni là người sáng lập ra Đạo Phật nhưng để trở thành một tôn giáo theo nghĩa đầy đủ, nó còn phụ thuộc vào những người kế tục Thích Ca và bốn cuộc đại hội kết tập kinh điển Phật giáo ở Ấn Độ sau này.
Sau khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, ở Ấn Độ đã diễn ra bốn cuộc đại hội Phật giáo. Qua bốn cuộc đại hội này, hệ thống kinh điển của Phật giáo đã ra đời, bao gồm Kinh, Luật và Luận. Tổ chức tôn giáo và hệ thống lễ nghi thờ cúng cũng được hình thành và phát triển. Như vậy, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh. Song quá trình hình thành này cũng kéo theo nó là sự phân hóa trong nội bộ Phật giáo thành hai phái là Đại Thừa và Tiểu Thừa. Sau đại hội lần thứ tư, các nhà sư càng được khuyến khích truyền đạo trong nước cũng như ra bên ngoài Ấn Độ. Do đó Đạo Phật càng được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc. Những thế kỉ tiếp sau đó, Đạo Phật suy dần ở Ấn Độ nhưng lại được phát triển ở phần lớn châu Á và đã trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia như Srilanka, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào. Ngày nay thì Đạo Phật đã được phát triển tới qui mô thế giới với rất nhiều nước có tín đồ theo Đạo Phật.
Những luận điểm cơ bản trong giáo lí Đạo Phật bao gồm những lí luận về nhân sinh quan và thế giới quan. Trước hết về nhân sinh quan-triết lí nhân sinh về con người của Đạo Phật. Đây là nội dung bao trùm gần như toàn bộ tư tưởng Đạo Phật cả về triết học, tôn giáo học và đạo đức học. Đạo Phật tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp của kinh Upanisad: cho rằng mọi sự vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác, quá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo luật nhân quả. Mục đích cuối cùng của Đạo Phật là tìm ra con đường giải thoát đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi bất tận đó. Đức Phật nói: “Này các đệ tử, ta nói cho mà biết, nước ngoài biến khơi có một vị là vị mặn, đạo của ta đây cũng chỉ có một vị là vị giải thoát”. Để đi tới giải thoát, Phật nêu lên “Tứ diệu đế”, hay còn gọi là “Tứ thánh đế”, nghĩa là bốn chân lí tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người đều phải nhận thức được. “Tứ diệu đế” là cống hiến riêng của Phật Thích Ca. Đây là một trong những phần quan trọng nhất của giáo lí Đạo Phật. “Tứ diệu đế” bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
2. Giáo lý của đạo Phật
Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một trào lưu triết học, trong đó triết học Phật giáo là cơ sở cho những giáo lý đạo Phật. Triết học Phật giáo là một hệ thống phức tạp, nó đề cập đến nhiều vấn đề của giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong triết học Phật giáo chứa đựng cả những quan niệm duy vật và duy tâm, đặc biệt nó đã xây dụng được phương pháp biện chứng sâu sắc. Theo đánh giá của Ăng ghen: Tư duy biện chứng ở duy vật có rất sớm ở các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại và những tín đồ của Phật giáo sơ kỳ. Nếu xem Phật giáo là một tôn giáo của sự giải thoát và việc giải thoát gắn với vai trò của con người thì giáo lý cơ bản của Phật giáo là “Tứ diệu đế” và “Niết bàn”. Vì tứ diệu đế lý giải vấn đề khổ và sự diệt khổ là để đến thế giới niết bàn.
2.1 Tứ diệu đế
Tứ diệu đế được Phật giáo xem là 4 chân lý hay là 4 nền tảng, gồm: khổ đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế. Khổ đế: là chân lí về bản chất của nỗi khổ. Khổ là gì? Đó là trạng thái buồn phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyện vọng không được thỏa mãn. Nhân đế: là chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ. Đó là do ái dục (ham muốn) và vô minh (kém sáng suốt). Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là Nghiệp (karma); hành động xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo), thành ra cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được. Diệt đế: là chân lý về cảnh giới diệt khổ. Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nirvana, nghĩa đen là “không ham muốn, dập tắt”). Đó là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát. Đạo đế: là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt khổ, giải thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), tư tưởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ). Ba môn học này được cụ thể hóa trong khái niệm bát chính đạo (tám nẻo đường chân chính). Đó là: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng (thuộc lĩnh vực rèn luyện đạo đức- GIỚI); chánh niệm, chánh định (thuộc lĩnh vực rèn luyện tư tưởng- ĐỊNH); chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh thần (thuộc về lĩnh vực khai sáng trí tuệ- TUỆ)
2.2 Niết bàn
Niết bàn: Niết bàn được được Phật giáo xem là trạng thái vắng lặng, tịch diệt, nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha. Đây là một trạng thái lý tưởng. Về cơ bản có hai cách giải thích về sự tồn tại của niết bàn. Cách thứ nhất cho rằng, niết bàn tồn tại ở nơi mà sau khi con người ta chết nếu tu hành đắc đạo linh hồn sẽ được siêu thoát về giới Niết bàn. Niết bàn ở đây cũng có nhiều bậc khác nhau. Theo cách hiểu thông thường của các tín đồ theo đạo Phật thì cho rằng đó là tây phương cực lạc. Cách thứ hai cho rằng: Niết bàn có thể tồn tại ngay tại thế giới trần tục (sinh tử là niết bàn, niết bàn là sinh tử). Con người có thể đạt tới trạng thái Niết bàn này khi con người đã loại được “tham, sân, si” khi con người đã loại thoát khỏi vô minh và sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha…, như vậy ở cách giải thích thứ nhất nó chủ yếu hướng con người đến với thế giới siêu nhiên, ở cách hiểu thứ hai nó chủ yếu hướng con người vào đời sống trần tục trên quan niệm Phật giáo. Đối với Niết bàn là địa ngục, việc giải thích về địa ngục cũng giống như sự giải thích về sự tồn tại của Niết bàn. Vậy xét đến cùng thì theo cách nói của Phật giáo là “rốt ráo” thì chẳng có địa ngục hay Niết bàn. Do vậy lý thuyết về Niết bàn và địa ngục chủ yếu có giá trị về mặt hướng thiện.
3. Giáo luật của đạo Phật
Giáo luật là nền tảng căn bản của Phật giáo. Tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (ngũ giới): Không sát sinh; Không trộm cắp Không tà dâm; Không nói dối; Không uống rượu. Trong số đó, giới luật “không sát sinh”. Tục tín đồ, nhất là các tăng ni phải ăn chay, không được ăn thịt động vật là do vua Lương Vũ đế (502-549) của Trung Quốc đặt ra vào thời kì đạo Phật thịnh hành ở nước này. Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết duyên khởi. Duyên khởi là chữ nói tắt câu “chư pháp do nhân duyên nhi khởi” nghĩa là “các pháp đều do nhân duyên mà có”. “Pháp” (dharma) là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần. Giáo lý của Phật giáo cũng là sự vật nên cũng gọi là “pháp”. Còn nhân duyên là nguyên nhân, nhưng trong đó, nhân là nguyên nhân chủ yếu, duyên là nguyên nhân phụ. Ví dụ: Sở dĩ một cái cây có thể nảy mầm và phát triển được là nhờ có hạt giống, đất, nước, khí trời, ánh sáng, trong đó hạt giống là nhân, đất, nước, khí trời, ánh sáng là duyên. Như vậy, mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Nhưng duyên khởi do đâu mà có? Học thuyết Phật giáo giải thích rằng duyên khởi do tâm mà ra.Tâm là nguồn gốc của duyên khởi thì cũng là nguồn gốc của vạn vật.
Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương “vô tạo giả” tức là không có vị thần linh tối cao tạo ra vũ trụ. Đây là một nội dung cơ bản mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Balamon và cũng là một sự khác biệt quan trọng giữa đạo Phật với nhiều tôn giáo khác. Bên cạnh thuyết “vô tạo giả”, đạo Phật còn nêu ra các thuyết “vô ngã”, “vô thường”. “Vô ngã” là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con người cũng chỉ là sự tập hợp của 5 uẩn sắc, thụ tưởng, hành, thức chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài. Đây là nội dung thứ hai mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Balamon, vì đạo Balamon chủ trương có bản ngã. “Vô thường” là mọi sự vật đều ở trong quá trình sinh ra, biến đổi, tiêu diệt chứ không bao giờ được ổn định. Như vậy, về thế giới quan, tuy đạo Phật ban đầu chủ trương vô thần (vô tạo giả) nhưng chung quy vẫn là duy tâm chủ quan. Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, vì đạo Phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt. Mọi người, dù thuộc đẳng cấp nào một khi đã tu hành theo học thuyết của Phật thì đều trở thành những thành viên bình đẳng của một Tăng đoàn.
Đồng thời đạo Phật mong muốn có một xã hội trong đó vua thì có đạo đức và phải dựa vào pháp luật để trị nước, không được chuyên quyền độc đoán, còn nhân dân thì được an cư lạc nghiệp. Như vậy, đạo Phật ban đầu là một học thuyết khuyên người ta phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thượng đế và các vị thần bảo hộ, do đó không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thầy cúng.
4. Lễ nghi của đạo Phật
Bất cứ một tôn giáo nào cũng đều phải có những hình thức nghi lễ để tiêu biểu tinh thần đạo vị của mình. Đạo Phật không phải là tôn giáo chú trọng về phương diện nghi lễ, nhưng nhờ có sinh hoạt nghi lễ mà đưa con người vào đạo Phật một cách dễ dàng. Ví dụ: cầu an cho người bị tai nạn, cầu siêu bạt độ cho người lâm chung… Đó là những phương tiện thực tế để điều hòa lý trí, gieo rắc tình cảm của con người, an ủi tinh thần cho người còn cũng như người đã khuất. Vì thế, nghi lễ cũng là vấn đề quan trọng trong đạo Phật.
Mỗi khi hành lễ, muốn được điều hòa âm thanh nhịp nhầng, trầm bỗng để tăng phần trang nghiêm và linh cảm cần phải có những pháp khí để làm phương tiện hộ tương trong những khóa lễ như sau: Đây là bài kệ: chuông trống bát nhã (song hành) Bát nhã hội (3 lần) Thỉnh phật thượng đường (1 lần) Đại chúng đồng văn (1 lần) Bát nhã âm (1 lần) Phổ nguyện pháp giới (1 lần) Đẳng hữu tình (1 lần) Nhập Bát Nhã (1 lần) Ba La Mật Môn (5,10 lần). Trước hết câu từ 3 hồi chung bản qua chuông trống, phải đổ 1 hồi ngắn, kế đến đánh 3 hồi chính thức dài y đúng bài kệ trên, sau cùng dứt 4 tiếng.
Lễ thường đánh 3 hồi dài, lễ lớn đánh 9 hồi dài.