1. Hoạt động của hệ thống Tòa án chưa đáp ứng yêu cầu về đạo đức, năng lực..

Thẩm phán là nghề nghiệp vinh quang nhưng áp lực, khó khăn và vất vả. Với trọng trách của những người bảo vệ và thực thi công lý, Thẩm phán luôn phải đối mặt với những cám dỗ, rủi ro và nguy hiểm vì mỗi phán quyết của họ tác động trực tiếp đến tự do, danh dự, nhân thân, tài sản và cả tính mạng của con người. Chính vì vậy, hoạt động của Thẩm phán được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của người dân và xã hội. Người dân đòi hỏi ở các Thẩm phán những phẩm chất cao quý với những đánh giá khắt khe: bên cạnh trình độ chuyên môn giỏi; sự hiểu biết sâu rộng về xã hội, khoa học…, Thẩm phán phải là những người có đạo đức; lòng dũng cảm, dám đấu tranh và đấu tranh không khoan nhượng với những vi phạm pháp luật; có tinh thần thượng tôn pháp luật; luôn tuân theo lẽ công bằng; có trách nhiệm với xã hội và có tấm lòng nhân hậu tuy nhiên trên thực tiễn tổ chức, hoạt động của hệ thống Tòa án chưa đáp ứng yêu cầu về đạo đức, năng lực, trách nhiệm nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ xét xử chưa xứng tầm

Tính đến ngày 31/7/2017, hệ thống Tòa án nhân dân có 14.794 người, trong đó có 5.657 Thẩm phán, 8.269 Thẩm tra viên và Thư ký Toà án, cùng 868 chức danh khác. So với năm 2005, số lượng Thẩm phán của Tòa án các cấp tăng 2.203 người, tương đương 39%. Tổng số Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2016 - 2021 của 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 710 Tòa án nhân dân cấp huyện tính đến cuối năm 2018 là 17.014 người. Cho đến nay, 100% Thẩm phán các cấp đều có trình độ cử nhân luật, những số được đào tạo chính quy chỉ chiếm gần 35%, số còn lại hầu hết được đào tạo theo loại hình tại chức, chuyên tu, luân huấn hoặc từ xa. Số thẩm phán này được sắp xếp làm việc tại Tòa án các cấp từ những giai đoạn trước đây, có kinh nghiệm nhưng năng lực chuyên môn, khả năng tin học, ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu; số Thẩm phán được bổ nhiệm mới trong giai đoạn gần đây, đều được đào tạo chính quy nhưng kinh nghiệm, uy tín xét xử còn hạn chế.

Kể từ khi các luật tố tụng có hiệu lực pháp luật, số lượng các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ngày càng tăng. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị, Tòa án phải thực hiện việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, toàn bộ các cơ quan trong hệ thống chính trị từ nay đến năm 2021 tối thiểu là 10% đội ngũ hiện có. Tính đến cuối năm 2018, số lượng cán bộ Tòa án đã giảm xuống còn 14.149 người. Do đó, dù thẩm quyền được mở rộng và số lượng vụ việc tăng mạnh nhưng các Tòa án lại không được tăng biên chế nên áp lực công việc ngày càng nặng (có những nơi Thẩm phán phải giải quyết từ 12-18 vụ/tháng, vượt mức cho phép 5 vụ/tháng). Trong khi đó, lương bổng và chế độ đãi ngộ chưa tương xứng (Thẩm phán cấp huyện hiện nay lương khoảng 3,5- 7,5 triệu đồng, Thẩm phán cấp tỉnh 6,5 - 10 triệu đồng, Thẩm phán tối cao 9,2 - 12 triệu đồng); chế độ khen thưởng còn mang tính hình thức; việc biệt phái, điều động, luân chuyển cán bộ có lúc, có nơi còn chưa công bằng...

Thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao đã thực hiện chế độ thi tuyển chọn, nâng ngạch để bổ nhiệm Thẩm phán, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ Thẩm phán Tòa án các cấp; đã ban hành Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 về việc xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dần và Quyết định số 87/QĐ-HĐTD ngày 04/7/2018 về' bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán. Quá trình thực hiện các công việc nói trên đã giúp cho đội ngũ Thẩm phán các cấp được kiện toàn về số lượng, nâng cao về chất lượng; các Thẩm phán thường xuyên được cập nhật kiến thức và kỹ năng xét xử. Với việc ứng dụng hệ thống truyền hình trực tuyến, Thẩm phán, Hội thẩm các cấp được tham gia quá trình đào tạo, bồi dưỡng tiện lợi. Kỷ cương, kỷ luật công vụ, lề lối làm việc được thực hiện nghiêm; ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn có những hạn chế, bất cập nhất định như: Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Thẩm phán tiến hành còn chậm; nội dung đào tạo chưa sâu, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các Tòa án; còn có những Thẩm phán hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không có ý thức học tập; có biểu hiện quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ; thờ ơ, vô cảm, có lối sống thực dụng, cơ hội, vi phạm kỷ luật, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự... Trong năm 2019 đã xử lý kỷ luật 43 công chức Tòa án nhân dân địa phương do có hành vi vi phạm (trong đó, buộc thôi việc 04 trường hợp, cách chức 01 trường hợp, khai trừ Đảng 02 trường hợp, cảnh cáo 03 trường hợp, khiển trách 33 trường hợp). Công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và giám đốc kiểm tra việc xét xử nhìn chung chưa tốt, chỉ giải quyết được hơn 50% đơn đề’ nghị, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội...

2. Điều kiện vật chất chưa thật sự đảm bảo

Thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao đã tập trung đầu tư xây dựng trụ sở, bổ sung trang thiết bị phương tiện làm việc và nguồn lực tài chính cho việc ứng dụng công nghệ thông tin để từng bước đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Tuy nhiên, nguồn ngân sách của Nhà nước hiện nay vẫn còn hạn chế. Nguồn kinh phí đầu tư còn thiếu so với yêu cầu, chủ yếu mới giải quyết được yêu cầu trước mắt, các trụ sở làm việc của Tòa án các cấp còn thiếu đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ thông tin còn chậm

Nhiều Tòa án địa phương, đặc biệt là Tòa án cấp huyện ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, tính đến năm 2017 còn 35 Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có trụ sở làm việc phải đi thuê. Trang thiết bị, phương tiện làm việc còn thiếu, xuống cấp và lạc hậu, nên khả năng tiếp cận ứng dụng công nghệ thông tin còn khó khăn. Điều đó cũng đã tác động không nhỏ đến hiệu quả xét xử, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân.

Tóm lại, đánh giá về thực tiễn bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân chủ yếu từ sau năm 2013 đến nay cho thấy, nhìn chung, Tòa án nhân dân đã đạt được những kết quả tích cực, đã thực hiện tương đối tốt nội dung bảo vệ công lý trong việc giải quyết vấn đề bản chất pháp lý của vụ án, thực thi thủ tục tố tụng, định chuẩn pháp lý, thể hiện phán quyết và phương thức bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử các vụ án; đã hủy, sửa được những phán quyết không bảo vệ được công lý.

Về củng cố, hiện đại hóa cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc cho các Tòa án, nhằm tiếp tục đảm bảo cho các Tòa án từng bước được trang bị phương tiện, trang thiết bị làm việc đầy đủ và hiện đại đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho biết, Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng, trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án trang thiết bị, phương tiện làm việc của Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2014 - 2018; hoàn thiện Đề án trang bị phương tiện làm việc giai đoạn IV (2019-2023) bảo đảm phù hợp với yêu cầu mới và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.

3. Điều kiện bảo đảm cho thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

3.1. Điều kiện về trí tuệ và tâm lý

Điều kiện này không chỉ phụ thuộc vào khả năng, ý chí tự đào tạo, rèn luyện của bản thân người Thẩm phán mà còn phụ thuộc vào công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay. Theo đó, trước hết cần đổi mới cơ chế tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán.

Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để tuyển chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”. Theo chủ trương này, thay vì hiện nay đối tượng được tuyển chọn chỉ chủ yếu là các cán bộ, công chức công tác tại Tòa án, trọng tâm là đội ngũ Thư ký, cần mở rộng nguồn tuyển chọn, với các chính sách thu hút thỏa đáng, tập trung vào các đối tượng là luật sư, công chứng viên, đấu giá viên, trọng tài viên của các tổ chức trọng tài thương mại, các chuyên gia tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý và các cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan nhà nước như các ban pháp chế thuộc Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp huyện, các vụ pháp chế thuộc các Bộ, v.v…
Bên cạnh đó cần có những đầu tư thích đáng vào công tác đào tạo Thẩm phán bằng việc tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ xét xử của Thẩm phán tại Học viện Tư pháp, tập trung đào tạo nâng cao kỹ năng áp dụng pháp luật trong xét xử các loại án của người Thẩm phán. 

3.2. Điều kiện về chế độ tiền lương, cơ sở vật chất

Nghị quyết số 730/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bảng lương chuyên môn nghiệp vụ ngành Tòa án đã xác định chế độ lương dành cho Thẩm phán có 3 ngạch A1, A2, A3, trong đó:
- Ngạch A1 áp dụng cho Thẩm phán TAND cấp huyện (Thẩm phán sơ cấp), gồm 9 bậc, hệ số lương bậc 1 là 2,34 và hệ số lương bậc 9 là 4,98.
- Ngạch A2 áp dụng đối với Thẩm phán TAND cấp tỉnh, gồm 8 bậc, hệ số lương bậc 1 là 4,40 và hệ số lương bậc 8 là 6,78.
- Ngạch A3 áp dụng đối với Thẩm phán TAND tối cao, gồm 6 bậc, hệ số lương bậc 1 là 6,20 và hệ số lương bậc 6 là 8,00.
Như vậy, chế độ lương đối với Thẩm phán các cấp không có gì khác biệt với chế độ lương của cán bộ, công chức và không phù hợp với tính đặc thù của nghề nghiệp xét xử của Thẩm phán. Ngoài ra, sự bất cập của ngạch lương Thẩm phán còn ở chỗ số bậc trong một ngạch là quá lớn; nếu tính 03 năm được lên một bậc lương thì Thẩm phán sơ cấp phải mất 27 năm mới hết ngạch A1 và mất 21 năm mới hết ngạch A2 (Thẩm phán trung cấp). Vì vậy, toàn bộ cuộc đời công chức của người Thẩm phán cũng chỉ theo hết các bậc trong ngạch lương A1 mà không thể theo hết bậc lương A2, chưa kể để trở thành Thẩm phán TAND cấp huyện phải có ít nhất 4 năm làm công tác pháp luật.

 3.3. Điều kiện về cơ chế thực hiện quyền xét xử của Tòa án

Cơ chế thực hiện quyền xét xử của Tòa án các cấp thống nhất trong cơ chế tổng thể thực hiện quyền lực nhà nước. Yêu cầu hàng đầu đối với cơ chế ấy là phải bảo đảm cho Tòa án độc lập, chỉ tuân theo pháp luật trong thực hiện chức năng xét xử. Tòa án có độc lập thì thẩm phán mới được độc lập khi xét xử. Để đáp ứng yêu cầu này, đòi hỏi phải giải quyết nhiều mối quan hệ phức tạp như: mối quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử của Tòa án; mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan dân cử ở địa phương với Tòa án các cấp; mối quan hệ giữa Tòa án với các cơ quan tiến hành tố tụng; mối quan hệ nội bộ ngành, trong đó mối quan hệ giữa các cấp Tòa án, giữa lãnh đạo Tòa án với Thẩm phán, người trực tiếp thực hiện quyền lực xét xử. Những mối quan hệ này được thể hiện tập trung trong quản lý TAND địa phương của TAND tối cao trên cơ sở phân cấp…
Luật Minh Khuê - Biên tập và Sưu tầm