1. Vài nét về John Maynard Keynes
John Maynard Keynes (5 tháng 6 1883 – 21 tháng 4 1946) là một nhà kinh tế học người Anh. Những ý tưởng của ông, hình thành nên Kinh tế học Keynes, có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trị cũng như các chính sách tài chính của nhiều chính phủ. Ông ủng hộ cho sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài chính và chính sách tiền tệ để điều chỉnh tổng cầu do đó làm giảm nhẹ những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra. Ông là người khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại và là nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.
John Maynard Keynes sinh ra ở Cambridge, là con trai của John Neville Keynes, một giảng viên của Đại học Cambridge, và Florence Ada Brown, một tác giả và là nhà cải cách xã hội. Em trai của ông, Geoffrey Keynes (1887–1982) là một nhà phẫu thuật. Em gái của ông Margaret (1890–1974) là vợ của một nhà sinh học đã giành được Giải Nobel tên Archibald Hill. Thuở nhỏ, ông đã thích lái xe lửa, nhưng rồi ông được học bổng tại trường trung học Eton College, sau đó nghe giảng tại King’s College thuộc Đại học Cambridge, Toán, Triết học, Lịch sử và Kinh tế. Sau khi lấy bằng tiến sĩ năm 1908, thoạt đầu, ông làm tại văn phòng của Bộ Tài chính Anh ở Ấn Độ, về sau giảng dạy kinh tế học ở Đại học Cambridge. Năm 26 tuổi, tác phẩm Phương pháp biên chế chỉ số của ông đoạt giải thưởng Adam Smith. Sau đó ông chủ biên tạp chí Kinh tế học. Trước Chiến tranh thế giới I là thư ký Hội kinh tế Hoàng gia Anh. Chiến tranh thế giới I nổ ra, ông làm ở Ngân khố Anh, sau chiến tranh là đại biểu Bộ Tài chính Anh tại Hội nghị hòa bình Paris, rồi viết cuốn sách Thành quả kinh tế của hòa bình gây tiếng vang lớn.
2. Khái niện Tổng cầu
Khi tiếp cận khái niệm tổng cầu, John Maynard Keynes tránh đề cập đến số lượng tổng đầu ra đã nêu trong lý thuyết số lượng tiền tệ và trình bày quan sát các yếu tố quyết định và đặc điểm của những bộ phận cấu thành của tổng cầu hàng hóa. Điểm chính trong số này là tổng tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tư nhân, nghĩa là hàm tiêu dùng.
Hàm tiêu dùng liên kết tiêu dùng mọi hàng hóa và dịch vụ tư nhân với tổng mức thu nhập. Thật tiện khi diễn đạt thành c = f(Y), đọc là tiêu thụ (C) là hàm tổng thu nhập (Ỵ). Tiêu dùng, như Keynes nhận thức rất rõ, liên quan đến nhiều yếu tố khác - dự đoán giá cả, hiệu dụng tiết kiệm đối với tiêu dùng kỳ hạn so với tiêu dùng hiện tại, dự đoán thu nhập, định chế và nhiều yếu tố nữa. Nhưng Keynes muốn tạm thời không xét các biến số này để xét tiêu dùng và thu nhập (yếu tố lợi suất và lợi nhuận tổng hợp). Vì thế, đối với công thức thu nhập, thu nhập có thể tiêu dùng hay tiết kiệm, vì thế tổng thu nhập cũng được xem là một hàm thu nhập.
Thứ nhất liên quan đến giả định nền tảng về tính chất của hàm tiêu dùng. Khuynh hướng tiêu dùng trung bình được cho rằng phải giảm khi thu nhập dùng biên tế hay tỉ lệ thay đổi tiêu dùng với sự thay đổi tăng dần trong thu nhập Ac//\y - đọc là hàm tiêu dùng giữ nguyên không đổi. Tương tự, Keynes định nghĩa khuynh tiết kiệm trung bình và biên tế với khuynh hướng tiêu dùng tăng dần và khuynh hướng sau giữ nguyên không đổi. Thay đổi bất kỳ trong khuynh hướng sẽ tạo sự thay đổi (biến đổi hay luân phiên) trong các hàm tiêu dùng và tiết kiệm. Bất kỳ yếu tố quyết định tiêu dùng phi thu nhập đã nói ở trên (thị hiếu, giá và dự đoán thu nhập) đều có tác dụng này.
3. Hàm tổng cung
John Maynard Keynes định nghĩa hàm tổng cung như giá tổng cầu của đầu ra từ việc sử dụng N người [trong dạng hàm số, z = ộ (N)}. Dọc theo hàm số này được mô tả như đường 45°, nhu cầu hàng hóa với giá đã cho bằng với lượng hàng cung cấp. Một phần trong tổng cầu hàng hóa bao gồm nhu cầu đầu tư (thiết bị, nhà máy, v.v...) và Keynes tin rằng phần lớn những chi phí này (ít nhất trong ngắn hạn) được xem là mức thu nhập tự trị hay độc lập. Giả định này hoàn toàn hợp lý dựa vào doanh nghiệp lớn cam kết đầu tư dài hạn diễn ra trong ngắn hạn bất kể điều kiện thu nhập.
Sự đầu tư tự trị như thế cũng được mô tả ở cả phần dương lẫn âm, được cộng vào (theo chiều thẳng) tiêu dùng ở phần phía trên và so sánh với hàm tiết kiệm ở phần phía dưới. Tổng cầu bằng với chi phí tiêu dùng và chi phí đầu tư. Lúc này tất cả yếu tố dùng để giải thích sự xác định thu nhập đều hiện hữu.
Bảng kê tiêu dùng và đầu tư xác định mức thu nhập cân bằng Yo. Ở điểm giao nhau bảng kê tổng cung và tổng cầu (điểm A), tổng doanh số xuất phát từ mức đầu ra Yo sẽ bằng tổng phí tổn (thanh toán yếu tô") sản xuất đầu ra Yg. Nếu mức thu nhập lớn hơn Yo, thì tổng cung sẽ vượt quá tổng cầu. Nói cách khác, tổng phí tổn của việc sản xuất mức đầu ra cao hơn sẽ vượt quá thu nhập có thể thu được từ tiêu dùng và chi phí đầu tư ở mức độ đó. Điều này là do tiêu dùng không tăng thích hợp để hấp thu cung tăng. Ngăn cản sự thay đổi giá (không xét trong mô thức đơn giản này), hàng trong kho chưa bán sẽ chất đông, doanh nghiệp sẽ giảm sản lượng xuống Yo. Đối với lý do tương tự và ngược lại, đầu ra sẽ tăng đến Yo trong nhất thời sẽ từ Yg giảm xuống. Vì thế mức đầu ra được xem là ổn định.
Điểm quan trọng của Keynes là một mức đầu ra chẳng hạn như Yg được tạo ra từ tiêu dùng và đầu tư, mặc dù ổn định, không nhất thiết là mức việc làm đủ của sản lượng quốc gia. Keynes kết luận có thể là mức thu nhập cân bằng trong nền kinh tế ở mức việc làm đủ ít hơn.
4. Vai trò đầu tư
Trong mô thức được thừa nhận là đơn giản hóa tóm tắt trong Hình 19-2, hai nguồn chi phí tư nhân được trình bày, tiêu dùng và đầu tư. Trong cả hai, John Maynard Keynes xem chi phí đầu tư dễ thay đổi nhiều hơn. Nhu cầu đầu tư được xác định bằng nhiều yếu tố ngoài lãi suất, bao gồm lợi nhuận dự tính trong tương lai. Thật ra, khái niệm nổi tiếng của Keynes, hiệu suất biên tế của đồng vốn (thực ra là đầu tư) liên quan đến vốn đầu tư đối với lợi nhuận dự tính qua thời gian hoạt động của dự án đầu tư. Keynes xét sự dự đoán, tùy thuộc các yếu tố tâm lý thất thường như đang có ảnh hưởng trực tiếp, quan trọng đối với đầu tư, do đó đối với thu nhập.
Ngoài ảnh hưởng tâm lý đối với đầu tư, vẫn còn vấn đề cơ bản hơn đối với xác định thu nhập, nghĩa là chi phí đầu tư (như tất cả các dạng khác) đều có ảnh hưởng bội tăng đối với thu nhập. Sự thay đổi trong chi phí đầu tư chẳng hạn không tạo ra sự thay đổi trong thu nhập bằng số lượng thay đổi chi tiêu mà đúng ra bằng một số bội số.
Bội số đầu tư minh họa bằng đồ thị, Hình 19-3, tương tự như đồ thị phát triển trước kia. Tiêu thụ ban đầu và mức phí tổn đầu tư c + I xác định mức thu nhập bình quân Y°. Mức độ này ổn định theo nghĩa mô tả trong phần trước. Lúc này, cứ cho rằng một trong những yếu tố quyết định thay đổi I đầu tư - nghĩa là, dự đoán - và đầu tư tăng từ I đến I’ (D/). Ảnh hưởng lên tổng chi phí mô tả trong Hình 19-3 là sự thay đổi hướng lên trong hàm tổng cầu bằng D/. Thu nhập, trong cân bằng, tăng từ Y° sang Y1 (DY). Dĩ nhiên, vấn đề là thay đổi trong thu nhập (A/) sẽ lớn hơn sự thay đổi ban đầu trong đầu tư ( A/ ).
Ngoài hiệu quả bội tăng ra, có thể dự đoán về lý thuyết vì phụ thuộc vào giá trị bằng số của khuynh hướng biên tế tiêu thụ. Sự tùy thuộc dễ giải thích. Khoản tiền đầu tư bơm vào ban đầu ( A/ ) tiếp nhận như thu nhập bằng người thụ hưởng tỉ trọng yếu tố sản xuất trong kinh tế quốc dân. Điều này có nghĩa thu nhập tăng bằng A/ • Những người thụ hưởng này có khuynh hướng biền tế tiêu dùng và tiết kiệm dĩ nhiên cộng thêm 1. Cứ hình dung rằng khuynh hướng biên tế tiêu dùng là 75%, trong trường hợp này 75% của phần mới tiếp nhận thu nhập ban đầu được chi ra. Ớ điểm này thu nhập tạo ra trong số lượng A/ + 3/4( A/ )• Nhưng tiến trình vẫn [tiếp diễn. 3/4( A/ ) cho ra bởi người thụ hưởng ban đầu tiếp nhận như một thu nhập bằng các yếu tố khác. Khi tiến trình đến gần giới hạn, thay đổi thu nhập DY bằng với 1/(1 - MPC) hay trong ví dụ của chúng ta, 1/(1 - %) = 4, lần tăng đầu tư ban đầu. Nếu khoản tiền đầu tư bơm vào ban đầu là 10 tỉ đô-la, thì sự thay đổi sau cùng trong thu nhập sẽ là 40 tỉ đô-la. Giá trị của bội số hiển nhiên là 4, hay k, bội số bằng AY7 A/ .
Vì thế, tính thất thường của đầu tư hiện tại, đi kèm với hiệu quả bội tăng trên thu nhập, có nghĩa là dự đoán tổng thu nhập là phức tạp và khó khăn. Nhưng ngay cả các mức thu nhập và thay đổi có thể dự đoán bằng mức độ chính xác cao, những mức như thế ngẫu nhiên trở thành mức việc làm đủ. Muốn hiểu tại sao Keynes nghĩ như thế, chúng ta phải chuyển sang thảo luận lý thuyết cân bằng thất nghiệp và liên kết nó với thảo luận tổng nhu cầu hiện tại. Mặc dù khó khăn (đôi khi mơ hồ) đây là phần chính trong phân tích của Keynes.
5. Cân bằng thất nghiệp
các tác giả phái Cổ Điển nghĩ rằng nhu cầu lao động ngang bằng với sức sản xuất biên tế của lao động và sự cung ứng lao động ấy là hàm tiền lương thực tế tăng dần. Quan điểm cổ Điển về hàm lao động này được tái tạo trong Hình 19-4a. Tiền lương thực tế cân bằng (W7P)0 tạo ra việc làm đủ của đầu vào lao động No. Nếu tiền lương thực tế cân bằng được thay thế, nghĩa là đến (W/P)p thì thất nghiệp sẽ xảy ở số lượng AB. Công nhân sẽ được trả giá cạnh tranh tiền lương danh nghĩa giảm và tái hình thành việc làm đủ ở Ng.
Keynes không đồng ý với quan điểm trên. Ông lập luận rằng người lao động có thể bị thất nghiệp không cố tình, về lý thuyết, ông kết hợp các nhà kinh tế học cổ Điển trong nhận thức của họ về đường cong cầu lao động hay sản phẩm biên tế lao động. Nhưng người lao động, theo Keynes, không cung ứng lao động bằng lương thực tế, mà đúng ra là lương danh nghĩa. Tuy nhiên, công nhân bị ảo giác về giá trị tiền tệ, và sẽ không giảm lương trong tiền lương danh nghĩa thịnh hành. Những điểm này được minh họa trong Hình 19-4Ồ, nơi tiền lương danh nghĩa Wo ở mức giá sàn. Trong Hình 19-4Ỏ, mức việc làm N* tượng trưng cho lao động có đủ việc làm, và hàm nhu cầu lao động DN và D’N lúc này là giá trị sản phẩm biên tế lao động (vì nhu cầu được so sánh với tiền lương danh nghĩa thay vì tiền lương thực tế).
Vấn đề là liệu có thể có thất nghiệp không tự nguyện trong hệ thống kinh tế hay không. Các nhà kinh tế học cổ Điển thừa nhận tiền lương thực tế cân bằng chẳng hạn như (W/P)o trong Hình 19-4a, thì thất nghiệp tự nguyện và có tính ma sát có thể tồn tại. Thất nghiệp có thể là tự nguyện theo nghĩa một số lượng lao động tự nguyện miễn cho mình không tham gia lực lượng lao động ở mức lương (W/P)o.
Trái lại, Keynes xem vấn đề theo cách khác. Trong hình 19-46, lao động cung cấp số lượng N* ở tiền lương danh nghĩa Wo, nhưng nhu cầu chỉ ở số lượng No ít hơn sẽ được yêu cầu ở mức lương danh nghĩa (W/P)o. Kết quả sẽ là những gì mà Keynes gọi là thất nghiệp không tự nguyện. Lao động thất nghiệp không tự nguyện trong số lượng AB, tuy nhiên sự cân bằng trong thị trường lao động tồn tại theo nghĩa không có khuynh hướng tự động nào đối với việc làm để có thể dự đoán có thay đổi từ No. Vì thế, không có mức việc làm duy nhất đủ của đầu ra có thể đoán trước. Cân bằng rộng khắp nền kinh tế đạt được ở bất kỳ hiệu dụng lao động. Thứ nhất, người lao động sẽ không chấp nhận giảm lương, bằng cách này giảm mức lương thực tế để gia tăng việc làm. Thứ hai, ngay cả khi họ làm thế, giá cả chắc chắn giảm theo cùng tỉ lệ, tạo ra hàm cầu lao động chuyển sang trái và giữ nguyên mức thất nghiệp.
Vì thế, tình huống như thế này được mô tả trong Hình 19-5ữ và 19-56, đầu ra Y° và Y* là hàm số đầu vào. Sự cân bằng xảy ra ở các mức đầu vào và đầu ra N° và Y°, nhưng ở các mức này thất nghiệp không tự nguyện tồn tại trong số lượng AB. Tổng cầu phải tăng bằng MN để mang nền kinh đến việc làm đủ. Keynes cho rằng đầu tư cá nhân chắc hẳn không mang lại điều này, và ông cho rằng chi phí chính phủ bù đắp và đánh thuế (chính sách tài chính) để giảm thất nghiệp và sản xuất quá ít. Những khía cạnh này trong chính sách của Keynes sẽ được thảo luận ở phần sau, nhưng trước tiên chúng ta chuyển sang lý thuyết của Keynes, hàm chọn lựa chu chuyển hay nhu cầu đầu tư tiền mặt. Nắm vững quan điểm của Keynes để hiểu thấu đáo giải thích quan điểm của ông về vai trò chính sách tiền tệ (và chính sách tài chính) trong việc kiểm soát mức hoạt động kinh tế.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)