1. Thuyết giá trị lao động
Sau khi xem lại các tài liệu kinh tế học cổ điển và tiến trình tri thức trong sự loại trừ logic, Marx đi đến kết luận lao động là bản chất của mọi giá trị. Đối với ông, giá trị là tài sản khách quan của tất cả hàng hóa. Vì thế, phải có nguồn gốc từ vấn đề nào đó quan trọng hơn là các tác động của thị trường cung cầu “giả tạo”. Thực ra, Marx không bị ấn tượng trước sự đánh giá thuần túy khách quan (ví dụ bằng những so sánh tính hiệu dụng), vì về triết học, ông là người theo chủ nghĩa duy vật, vì thế cho rằng chỉ riêng các mối quan hệ vật chất cũng xác định được giá trị. Ông cũng cho rằng những mối quan hệ này xác định giá trị trước khi xác định giá, sao cho giá phản ánh đơn thuần giá trị do yếu tố khách quan thuần túy vốn phổ biến ở tất cả hàng hóa - lao động tạo ra.
2. Thuyết giá trị cổ điển có mâu thuẫn?
Kinh tế học cổ điển không những có một mà có đến hai thuyết giá trị trao đổi: xác định giá ngắn hạn bằng cung cầu và thuyết “giá tự nhiên” dài hạn hay phí tổn sản xuất. Marx cảm thấy có mâu thuẫn trong vấn đề này. Thuyết giá tự nhiên cho rằng giá không thay đổi trong dài hạn, trong khi thậm chí sự quan sát ngẫu nhiên cho thấy giá thị trường luôn dao động. Lúc này nếu sự dao động là kết quả của khả năng đơn thuần, thì khi ấy có quá nhiều khủng hoảng kinh tế, và thuyết chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx sẽ sụp đổ. Dĩ nhiên, Marx nhìn thấy vấn đề theo cách khác. Trong Wage Labour and Capital, ông viết:
“Chỉ riêng trong diễn biến những dao động này, giá được quyết định bằng phí tổn sản xuất. Toàn bộ biến chuyển của sự rối loạn này là trật tự của nó” (The Marx-Engels Reader, trang 175).
Marx thừa nhận giống như các nhà kinh tế học cổ điển rằng trong cạnh tranh giá thị trường không dao động ngẫu nhiên mà phải xoay quanh một điểm xác định. Nếu giá bán món hàng thấp hơn phí tổn sản xuất thì nhà sản xuất buộc phải ngừng kinh doanh. Nếu giá bán cao hơn phí tổn sản xuất thì lợi nhuận quá mức phát sinh thu hút nhiều đối thủ khác, trong nhất thời dẫn đến sự sản xuất quá thừa đến mức giá giảm. Do đó, điểm mà giá thị trường cạnh tranh luôn dao động là phí tổn sản xuất, mà Marx muốn nói là phí tổn lao động. Vì thế, ông xem giá trị được quyết định không phải bằng “quy luật thị trường” mà bằng chính sản xuất.
Vấn đề được Murray Wolfson, một học giả Marxist lỗi lạc tổng kết hiệu quả theo cách khác. Wolfson lưu ý giá thị trường là lượng giá lý tưởng (nghĩa là chủ quan) tỉ lệ trao đổi bởi người mua và người bán tiềm năng. Nhưng sự cạnh tranh buộc những lượng giá lý tưởng này phải phù hợp với thực tế thị trường lao động được tiêu dùng trong sản xuất. Dĩ nhiên, người ta sẽ giải thích giá trực tiếp bằng sự tương tác của những lượng giá lý tưởng này cho đến khi sự đánh giá chủ quan nằm trong sự cân bằng. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật của Marx đòi hỏi cách giải thích khác. Chiều hướng nhân quả không thể từ đánh giá lý tưởng đến tỉ lệ trao đổi khách quan. Thuyết giá trị lao động do đó được phân biệt với các thuyết lao động trước đó vì có nguồn gốc vững chắc trong triết học chủ nghĩa duy vật.
3. Lương và vốn
Sau khi giải quyết thuyết giá trị lao động khách quan, Marx phải đối mặt với cùng loại vấn đề như Ricardo: (1) Nếu lao động là bản chất trao đổi giá trị, thì sự trao đổi giá trị lao động là gì và (2) giá trị của hàng hóa do máy móc sản xuất được quyết định ra sao? Câu trả lời cho vấn đề thứ nhất là thuyết về lương, còn vấn đề thứ hai là thuyết về vốn.
Marx giải quyết vấn đề thứ nhất theo cách này. Giá trị sức lao động có thể chia thành số lượng cần thiết để lao động đủ sống và số lượng hơn mức đủ sống ấy. Số lượng đủ sống mà Marx gọi là “lao động cần thiết về xã hội” xác định giá trị trao đổi của bản thân lao động - tiền lương lao động. Số lượng cao hơn mức đủ sống được gọi là “giá trị thặng dư’ bị nhà Tư bản chiếm đoạt. Marx giải thích điều này rõ ràng chủ nghĩa Tư bản không thể tồn tại trừ phi công nhân tạo ra giá trị lớn hơn yêu cầu sinh tồn của chính anh ta:
“Nếu lao động trong một ngày được yêu cầu để duy trì một lao động đủ sống trong ngày thì Tư bản không thể tồn tại, vì lao động trong ngày sẽ được trao đổi lấy sản phẩm, và đồng vốn không thể thực hiện chức năng như Tư bản, do đó không thể tồn tại... Tuy nhiên, nếu lao động đơn thuần trong nửa ngày cũng đủ cho một công nhân đủ sống như lao động trong cả ngày, thì khi ấy giá trị thặng dư tự động phát sinh...” (Grundrisse, trang 230).
Giá trị thặng dư này không phát sinh trong sự trao đổi mà trong sản xuất. Vì thế mục đích sản xuất từ quan điểm của nhà Tư bản là phải thu được giá trị thặng dư từ mỗi công nhân. Đây là những gì Marx muốn nói bằng “sự bóc lột lao động”. Sự bóc lột tồn tại bởi lẽ giá trị dư thừa do lao động đóng góp được trả thấp hơn anh ta đáng được hưởng nhưng bởi lẽ anh ta sản xuất nhiều hơn phần anh ta đáng được hưởng. Vì số lượng dư thừa này bị sở hữu chủ đất và Tư bản chiếm đoạt, nên giá trị thặng dư được xem là tổng số phần chia thu nhập không do lao động (nghĩa là tiền thuê đất, tiền lãi và lợi nhuận).
Marx xem nguyên tắc giá trị thặng dư là thành tựu chính của mình. Chắc chắn đây là bộ phận tích hợp của chủ đề chính đấu tranh giai cấp và cách mạng. Trong chủ nghĩa Tư bản, hai giai cấp xuất hiện, trong đó một giai cấp bị buộc phải bán sức lao động của mình cho giai cấp kia để mưu sinh. Sự thỏa thuận hợp đồng này biến lao động thành một hàng hóa chuyển nhượng cho người lao động. Không có sự khác biệt giữa giá trị trao đổi của lao động (sinh kế) và giá trị sử dụng của nó (giá trị năng suất lao động), thì nhà Tư bản không thể quan tâm đến việc mua sức lao động, do đó sức lao động không thể bán được. Vì thế thành phần đối với mâu thuẫn xã hội là tính chất vốn có trong chủ nghĩa Tư bản - sự chuyển nhượng và phân cực các giai cấp.
Ricardo đề nghị lao động là cách đánh giá giá trị tốt nhất, mặc dù không nhất thiết là nguyên nhân giá trị duy nhất. Marx đi xa hơn Ricardo ở điểm này, ông xem lao động như cách đánh giá lẫn nguyên nhân giá trị. Ngoài ra, ông cho rằng chỉ có lao động, chứ không phải máy móc, mới tạo ra giá trị thặng dư. Khi ấy, người ta đánh giá máy móc ra sao? Câu trả lời của Marx là máy móc là “lao động đóng băng”, vì thế bằng nhau về giá trị với phí tổn lao động sản xuất ra chúng. Câu trả lời này phủ nhận thực tế máy móc bản thân chúng mang tính sản xuất, vì thế sẽ được đánh giá bằng sự dư thừa lao động đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, Marx cũng phạm sai lầm trong thuyết giá trị lao động khi ông xem nhẹ sự phản đối này hoặc loại bỏ xem như tầm quan trọng không đáng kể.
4. “Mâu thuẫn lớn”
Sự phản đối nghiêm túc hơn đối với thuyết lao động phát sinh từ những người phê bình Marx dưới hình thức của những gì trước nay gọi là “mâu thuẫn lớn”. Mâu thuẫn như sau: Nếu giá trị trao đổi hàng hóa được quyết định bằng thời gian lao động mà chúng chứa đựng, thì giá trị này có thể hòa giải ra sao với thực tế quan sát thực nghiệm rằng giá thị trường của những loại hàng hóa này thường khác với giá trị lao động của chúng? Hay phải đặt nó trong cách khác: Chúng ta biết sự cạnh tranh đảm bảo một mức lợi nhuận đồng hạng trong khắp nền kinh tế. Tuy nhiên ngay cả trong nền kinh tế cạnh tranh, tỉ lệ vốn đối với lao động cũng khác nhau trong mỗi ngành công nghiệp. Với thuyết giá trị của Marx (nghĩa là chỉ riêng lao động cũng tạo ra giá trị thặng dư), thì lợi nhuận sẽ cao hơn trong các ngành công nghiệp cần nhiều lao động. Vì thế, vì tỉ lệ vốn/ lao động khác nhau trong khi tỉ lệ lợi nhuận vẫn ở mức đồng hạng, thì điều này không thể đúng (lập luận của những người phê bình Marx) khi giá trị được quyết định bằng cách trả lương cho riêng lao động.
Mặc dù chứng cứ cho rằng Marx dự đoán vấn đề này từ trước trong tác phẩm của mình, nhưng câu trả lời lừng danh trước những người phê bình ông vẫn còn nằm trong nội dung tập ba của bộ Capital, Marx vẫn cho rằng vấn đề được giải quyết bằng thuyết cạnh tranh vốn, khẳng định rằng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp có khuynh hướng hình thành một mức lợi nhuận đồng hạng của mọi doanh nghiệp tham gia sản xuất. Khi nào thì lợi nhuận bình quân được bổ sung vào phí tổn sản xuất (khác nhau) trong những ngành công nghiệp khác nhau, sự chênh lệch riêng lẻ giá thị trường với giá trị (lao động) thực có khuynh hướng bị xóa bỏ (trong sự tổng hợp).
5. Một vài định nghĩa của Marx
Trước khi phân tích giải pháp của Marx đối với mâu thuẫn lớn, chúng ta cần hiểu một số thuật ngữ kỹ thuật của ông. Trong giải quyết vấn đề định giá, Marx sử dụng những từ chuyên ngành sau:
Vốn bất biến (c) = phí tổn đối với vốn cố định (nghĩa là khấu hao cộng với phí tổn đầu vào nguyên vật liệu = tổng số tiền lương trả cho lao động
Vốn khả biến (ư), Kinh phí (Ã) = phí tổn sản xuất (ngoại trừ lợi nhuận) hay c + V
Tỉ lệ giá trị thặng dư (s’) = tỉ lệ giá trị thặng dư đối với vốn khả biến sử dụng, hay s/v
Tỉ lệ lợi nhuận (p’) = tỉ lệ giá trị thặng dư đối với kinh phí, hay s/(c + L>)
Thành phần vốn hữu cơ (ơ) = tỉ lệ vốn đối với lao động sử dụng trong sản xuất
Trong thuật ngữ đương đại có thể cho rằng GNP (tổng sản phẩm quốc dân) = c + u + s và NNP (tổng sản phẩm quốc dân thuần) = V + s.
6. Bài toán biến đổi
Marx cố gắng giải quyết mâu thuẫn lớn bằng cách sử dụng minh họa được tái tạo dưới đây trong Bảng 11-1. Phân tích và thảo luận của ông dựa trên ba giả định chính: (1) hàng hóa khác nhau được sản xuất bằng những thành phần vốn hữu cơ khác nhau (nghĩa là tỉ lệ vốn/ lao động khác nhau) và dùng hết vốn bất biến ở những mức độ sản xuất khác nhau, (2) để cho thuận tiện, tỉ lệ giá trị thặng dư được chọn là 100%, và (3) sự cạnh tranh sẽ có khuynh hướng cân bằng hóa tỉ lệ lợi nhuận trong số các ngành công nghiệp ở “tỉ lệ bình quân”, nghĩa là tỉ lệ giá trị thặng dư tổng hợp đối với kinh phí tổng hợp.
Marx lưu ý thành phần vốn hữu cơ trong bất kỳ ngành công nghiệp riêng lẻ nào sẽ tùy thuộc vào môi quan hệ kỹ thuật của sức lao động với các phương tiện sản xuất khác. Nhưng vì mục đích minh họa, tỉ lệ vốn bất biến so với vốn khả biến trong Bảng 11-1 được chọn tùy tiện. Năm hàng hóa khác nhau được miêu tả trong cột 1, mỗi hàng hóa sản xuất theo tỉ lệ vốn/ lao động khác nhau như trong cột 2. Ví dụ, hàng hóa A được sản xuất bằng 80 đơn vị vốn bất biến và 20 đơn vị vốn khả biến. Để đơn giản hóa, cứ cho rằng 80 và 20 là những chi tiêu bằng đô-la sao cho các đơn vị không đồng nhất “vốn” và “lao động” có thể cộng lại nhằm xác định kinh phí trong mỗi ngành trong số năm ngành công nghiệp. Vì thế, có thể nhận thấy rằng kinh phí bằng 100 đô-la trong mỗi ngành công nghiệp và kinh phí tổng hợp của nền kinh tế đơn giản là 500 đô-la. Cột 3 cho thấy các đơn vị vốn bất biến dùng hết trong quá trình sản xuất đối với mỗi ngành trong số năm ngành công nghiệp. Phí tổn tính bằng đô-la của mỗi hàng hóa được xác định trong cột 4 bằng cách cộng phí tổn tiền lương (vốn khả biến) ở cột 3. Đất chừa ra như một phương tiện sản xuất nhưng có thể dễ dàng kết hợp với vốn bất biến.
BẢNG 11-1 BIẾN ĐỐI GIÁ TRỊ THÀNH GIẢ CẢ
| (1) Hàng hóa | (2) Vốn | (3) Vốn dùng hết | (4) Phí tổn | (5) Giá trị thặng dư | (6) Giá trị lao động | (7) Lợi nhuận bình quân | (8) Giá bán | (9) Chênh lệch giá cả với giá trị |
| A ------ ► | 80c+20v | 50 | 70 | 20 | 90 | 22 | 92 | +2 |
| B ------ > | 70C+30V | 51 | 81 | 30 | 111 | 22 | 103 | -8 |
| c ---- > | 60c+40v | 51 | 91 | 40 | 131 | 22 | 113 | -18 |
| D ----- ► | 85c+15v | 40 | 55 | 15 | 70 | 22 | 77 | +7 |
| E ------ > | 95c+5v | 10 | 15 | 5 | 20 | 22 | 37 | +17 |
| Tổng | 500* | 202 | 312 | 110 | 422 | 110 | 422 | 0 |
* Tổng số này bao gồm sự kết hợp "hàng tồn kho" "nguồn cung ứng" (c+v), dùng để xác định lợi nhuận bình quân trong cột 7.
+Mặc dù giá bán (cột 8) và giá trị lao động (cột 6) khác nhau đối với từng hàng hóa, cột 9 biểu thị tổng đại số của các sai biệt riêng lẻ là 0.
Cột 5 cho thấy giá trị thặng dư trong mỗi ngành công nghiệp, ở mức 100% chi tiêu trên vốn khả biến. Cột 6 cho thấy giá trị “thật” của mỗi loại hàng hóa theo thuyết lao động của Marx. Giá trị trong cột này được xác định bằng cách cộng mỗi hàng trong cột 4 cho mỗi hàng trong cột 5.
Theo Marx, phí tổn hàng hóa khác với giá kinh doanh bằng số lợi nhuận bình quân, được cộng vào phí tổn (cột 4) để xác định giá bán (cột 8). Cột 7 là lợi nhuận bình quân cho mỗi ngành công nghiệp và đồng hạng trong mọi ngành công nghiệp theo luật cạnh tranh. Tỉ lệ lợi nhuận theo thuật ngữ của Marx là sì(c+v), hay 110/500 = 0,22, khi nhân cho kinh phí trong mỗi ngành công nghiệp (100 đô la), sẽ thu được tổng số đô la thể hiện trong cột 7. So sánh giữa cột 8 và 6 cho thấy giá trị thị trường khác với giá trị lao động đối với mỗi loại hàng hóa, như các nhà phê bình lập luận, nhưng cột 9 biểu lộ tổng đại số của các sai biệt riêng lẻ là bằng 0. Marx kết luận:
“Sự chênh lệch giá cả với giá trị làm cân bằng lẫn nhau bằng sự phân phối giá trị thặng dư đồng hạng, hay bằng cách cộng lợi nhuận bình quân 22% vôh ứng trước vào giá-phí tổn hàng hóa tương ứng. (Capital, III, trang 185).
Sự biến đổi giá trị này thành giá cả ủng hộ luận điểm của Marx rằng trong sự tổng hợp, lao động là nguồn giá trị thật, và trong lời tựa của ông trong tập của bộ Capital, Engels chào hàng như một chiến thắng trước những người phê bình Marx. Thế nhưng, sự thật là ngày nay một vài nhà kinh tế học hiện đại không thừa nhận.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)